Rối nước Đào Thục: Những cuộc đời sau tấm mành tre (Bài 1)
Dưới mặt nước lạnh của thủy đình làng Đào Thục, những con rối vẫn nổi lên mỗi khi trống lệnh vang. Những tích trò vẫn diễn ra như thường lệ, con rối nhảy múa trên mặt ao, sào gỗ lách cách theo nhịp tay nghệ nhân. Nhưng khác với ngày xưa, sân khấu giờ đây đã vắng đi bóng người.
Có một nơi chỉ cách trung tâm TP. Hà Nội khoảng 30 km, nơi những con rối gỗ vô tri biết cất lên tiếng hát, biết kể những câu chuyện của ngàn đời. Nơi những người nông dân chân lấm tay bùn hóa thân thành nghệ sĩ, giữ cho mạch nguồn văn hóa chảy suốt 300 năm. Nơi ấy chính là làng ng Đào Thục (xã Thụy Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội) là một trong những phường rối nước tiêu biểu của vùng đồng bằng sông Hồng.
Không có ánh đèn rực rỡ, không có kỹ xảo hiện đại, chỉ có mặt nước xanh biếc của thủy đình, con rối và những tích trò được kể bằng cả tâm hồn của người nghệ nhân. Chỉ vậy thôi nhưng ít ai biết rằng nơi đây đã từng là địa điểm vui chơi, giải trí nhộn nhịp bậc nhất làng Đào Thục trong những ngày nông nhàn thuở xưa.
Trong nhịp sống hiện đại, nhiều loại hình giải trí mới xuất hiện khiến con người dần lãng quên nghệ thuật truyền thống. Thế nhưng suốt nhiều năm qua, những nghệ nhân vẫn miệt mài biểu diễn, thổi hồn vào con rối, mang đến niềm vui cho người xem và giữ sức sống cho một nghệ thuật độc đáo của dân tộc. Trong cái rét 18 độ C của mùa đông miền Bắc, ẩn sau tấm mành tre, là những con người chẳng ngại khó, ngại khổ ngâm mình trong làn nước lạnh buốt, hết mình với từng tích trò dẫu cho nhiều thứ đã đổi thay và lượng khán giả đến với múa rối nước cũng không còn như xưa.





Ngâm bùn lội nước để làm nghệ thuật không phải là một công việc bình thường thích thú với mọi người. Nếu không phải là người sống ân tình với nước tới mức "Sống ngâm da, chết ngâm sương" như cư dân trồng lúa nước, thì khó có được sự truyền cảm nồng nhiệt vào hành động của nhân vật rối nước. Và câu chuyện của những người giữ hồn rối nước ở làng Đào Thục sau đây sẽ gợi cho ta hiểu sâu sắc hơn về hai chữ "ân tình" ấy.
Ông Nguyễn Văn Phi - Người giữ ký ức
Khi múa rối nước không còn là sinh kế, còn lý do nào để người ta ở lại với nghề? Hay chúng ta sẽ phải chấp nhận một sự thật rằng di sản trăm năm này đang dần rời xa chính cộng đồng đã sinh ra nó?
Câu hỏi ấy không nằm ở những hội thảo về bảo tồn di sản, cũng không hiện diện trong các bản báo cáo. Nó tồn tại rất cụ thể ở những ngôi làng vẫn còn giữ được múa rối nước, nơi nghệ thuật này đang song hành cùng những lo toan đời sống thường ngày. Ở làng Đào Thục, nỗi lo ấy tồn tại lặng lẽ qua từng buổi tập, từng lần chuẩn bị con rối, từng người còn chọn ở lại với nghề.
Và nó luôn đau đáu trong lòng một người không đứng trên sân khấu, nhưng lại giữ phần gốc rễ của cả phường rối. Đó là ông Nguyễn Văn Phi, trưởng thôn Đào Thục, đồng thời là nghệ nhân tạo hình rối nước duy nhất ở phường rối nước Đào Thục.
.jpg)
Di sản truyền khẩu đứng trước nguy cơ mất dấu
Một trong những cái khó lớn nhất múa rối nước, theo ông Phi, nằm ở chính cách tồn tại của nó. Nghề được truyền khẩu, truyền tay, truyền trực tiếp từ người sang người. Không giáo trình, không bản vẽ kỹ thuật hoàn chỉnh, không tài liệu nào có thể thay thế vai trò của người thầy.
“Nếu cụ không truyền thì mình không làm được. Mà mình cũng không thể tự nghĩ ra”. Ông Phi không khỏi tiếc nuối khi nói về những tích trò đã vĩnh viễn nằm lại quá khứ cùng với sự ra đi chưa kịp truyền thừa của những nghệ nhân thế hệ trước. Chính điều này khiến múa rối nước trở thành một di sản đặc biệt mong manh. Mỗi nghệ nhân mất đi không chỉ là mất một con người, mà là mất cả một phần ký ức văn hóa không thể phục dựng.
Đó cũng chính là lý do trong suốt những năm làm nghề của mình, ông Phi luôn cố gắng truyền đạt tất cả những gì bản thân đã tìm hiểu, đúc kết được cho những học viên của mình. Ai muốn học ông đều chỉ bảo tận tình, không giấu nghề. Bởi với ông, nỗi sợ lớn nhất không phải là ngón nghề bị lộ mà là một ngày nào đó trong tương lai, nghệ thuật múa rối nước truyền thống của làng bị mai một.
Nghề đẹp nhưng sống bằng khán giả ngoại quốc
Không máy tính hiện đại, không có phần mềm thống kê rõ ràng, chỉ một quyển sổ đã nhuốm màu thời gian ghi lại thông tin của từng đoàn khách tới xem múa rối nước, nhưng cũng đủ để ông Phi nhận ra một nghịch lý đáng lo ngại: 70% khán giả của làng rối nước Đào Thục hiện nay là du khách nước ngoài. Trong khi đó, người Việt, chủ nhân của di sản, lại ngày càng ít quay lại với loại hình nghệ thuật này.
“Tại sao sản phẩm của chúng ta lại không được chính chúng ta đam mê?”, ông đặt câu hỏi, không nhằm trách móc mà như một lời tự vấn. Rối nước dần trở thành một sản phẩm phục vụ du lịch, diễn nhanh, gọn, vừa khung giờ tour. Những tích trò dài, nhiều lớp nghĩa bị rút gọn. Không gian đình làng, nơi rối nước từng sinh ra, ngày càng vắng bóng khán giả địa phương.
Rối nước được biết đến nhiều hơn, nhưng lại sống xa hơn với cộng đồng của chính nó. Ngay cả khi có sự quan tâm từ Nhà nước, các nghệ nhân vẫn nhìn thấy rõ giới hạn. Những phường rối không nhận được sự đồng hành lâu dài từ chính quyền địa phương sẽ ngày càng mong manh. Đào Thục được xem là một ngoại lệ hiếm hoi, khi chính quyền và phường rối cùng song hành. Nhưng không phải làng rối nào cũng có được điểm tựa ấy.


Nỗi đau âm thầm dưới mặt nước lạnh
Không phải ai cũng nhìn thấy những giờ ngâm mình dưới nước lạnh phía sau tấm mành tre. Khán giả chỉ thấy những con rối gỗ nổi lên, cười nói, múa may giữa mặt ao. Phía sau đó là những đôi chân tê buốt, những cánh tay căng cứng vì giữ xào, và những cơ thể đã quen với ẩm thấp suốt nhiều năm. Chính ở không gian khuất ấy, nghệ thuật múa rối nước đang trả giá bằng sức khỏe, thời gian và cả sự lặng lẽ của những người giữ nghề.
Múa rối nước là nghệ thuật của sức khỏe và thể lực. “Những con rối như rồng, cá, muốn uốn lượn cho đẹp thì người điều khiển phải vừa khỏe vừa khéo”, ông Phi nói. Đứng dưới nước nhiều giờ, giữ thăng bằng và điều khiển các cơ cấu chuyển động phức tạp đòi hỏi thể lực bền bỉ. Không có nghệ nhân rối nước nào là người yếu. Khi sức khỏe suy giảm, khả năng biểu diễn cũng mất theo. Không phải ai cũng đủ điều kiện để theo nghề đến cuối đời. Và khi một nghệ nhân không còn đứng được dưới mặt nước, cũng đồng nghĩa với việc một phần nghệ thuật không còn người giữ.

Vất vả là thế, nhưng khi nói về thù lao của mỗi buổi diễn, ông Phi chỉ ngậm ngùi: “Một ngày, một buổi, từ sáng đến trưa, mỗi người được trăm nghìn”. Ông nói chậm, không nhấn mạnh, như thể đó là điều đã quen thuộc với những người làm nghề. Nếu một tháng đều đặn khoảng 20 buổi diễn, mỗi nghệ nhân cũng chỉ nhận được chừng 2–3 triệu đồng. Một người bình thường có thể sống ổn với mức thu nhập như vậy được hay không? Câu trả lời có lẽ là "không", nhất là trong thời đại vật giá leo thang như hiện tại.
Yêu nghề nhưng lại chẳng thể bám nghề mà sống. Đó có lẽ cũng chính là lí do phần lớn nghệ nhân tham gia biểu diễn múa rối nước ở làng Đào Thục hiện nay đều đã qua tuổi tuổi tứ tuần, có gia đình ổn định và tất nhiên kinh tế đến từ nguồn thu nhập khác. Rối nước vì thế chỉ có thể trở thành một niềm đam mê song hành, không thể là sinh kế chính, đặc biệt đối với thế hệ nghệ nhân trẻ hiện nay.

Có người bắt đầu học rối từ năm 10 tuổi, gắn bó với mặt nước suốt thời thơ ấu. Nhưng khi bước vào giai đoạn phải lo học tập, mưu sinh, kinh tế gia đình, họ buộc phải tạm dừng. Nghệ thuật vì thế khó đạt đến độ chín, bởi nó đòi hỏi sức khỏe, thời gian và sự toàn tâm, những điều người trẻ hôm nay rất khó dành trọn. Tình yêu nghệ thuật đối diện với hiện thực cuộc sống khiến con người ta phải trăn trở thật nhiều…