Gia tài báo giấy của người đàn ông tóc bạc
Từ niềm đam mê sưu tầm, ông Nguyễn Phi Dũng đã dành gần một thập kỷ tìm kiếm, lưu giữ hơn nửa triệu tờ báo qua nhiều thời kỳ, vượt qua không ít khó khăn và trăn trở. Với ông, hành trình ấy không chỉ là gìn giữ những trang báo cũ mà còn để lan tỏa những giá trị lịch sử đến cộng đồng và các thế hệ mai sau.
.png)
Từ niềm đam mê sưu tầm, ông Nguyễn Phi Dũng đã dành gần một thập kỷ tìm kiếm, lưu giữ hơn nửa triệu tờ báo qua nhiều thời kỳ, vượt qua không ít khó khăn và trăn trở. Với ông, hành trình ấy không chỉ là gìn giữ những trang báo cũ mà còn để lan tỏa những giá trị lịch sử đến cộng đồng và các thế hệ mai sau.

Về vùng đất Nam Định cũ (nay là Ninh Bình), cứ hễ nhắc đến ông Nguyễn Phi Dũng, người ta lại hào hứng nhắc đến một nhà sưu tầm sở hữu kho tàng báo giấy lớn số một Việt Nam.
Ấn tượng đầu của chúng tôi về ông Nguyễn Phi Dũng là một người tinh tường, sành sỏi có phần mực thước với mỗi vị khách ghé thăm “kho báu” của ông. Với bộ tóc trắng để dài, rủ xuống hai bên tai kèm bộ râu quai nón trắng phau, ông Dũng thể hiện trọn vẹn cái “lạ đời” của một nhà sưu tầm báo giấy. “Lạ đời” còn ở chỗ, ông dành cả vốn liếng tích lũy một đời từ doanh nghiệp công nghệ thông tin lại dồn hết cho hàng chục tấn báo cũ.

Theo ông Dũng, cái “lạ đời” ấy xuất phát từ thói quen của người cha của ông. Cha ông là Nguyễn Phi Hùng - một công chức nhà nước có thói quen mua báo về đọc. Sau một thời gian, ông Hùng thường tỉ mẩn khâu từng trang báo lại thành quyển, rồi đem đi bán để lấy tiền trang trải cuộc sống. Chứng kiến cha bán đi những tờ báo yêu thích, ông Dũng không đành lòng nên đã đưa ra lời đề nghị mua lại số báo của cha. Niềm đam mê sưu tầm tư liệu báo chí được bồi đắp kể từ đó.
Để có được nguồn kinh phí duy trì đam mê, ông tận dụng thành quả từ hoạt động kinh doanh của Công ty Máy tính Phi Dũng do mình làm chủ, cùng sự đồng hành, ủng hộ từ phía gia đình, anh em, bạn bè và những mối quan hệ thân thiết. Chính sự sẻ chia ấy đã tiếp thêm nguồn lực để ông bền bỉ theo đuổi hành trình sưu tầm và gìn giữ những tờ báo giấy qua nhiều thế hệ.

Khi chúng tôi hỏi về những khó khăn trên hành trình sưu tầm và gìn giữ báo giấy, ông Dũng trầm ngâm một hồi, không vội trả lời ngay. Câu hỏi dường như khơi lại những dự định ông đã ấp ủ từ lâu. Sau hàng chục năm miệt mài, điều khiến ông băn khoăn không chỉ là làm sao giữ được những tờ báo đã cũ, mà còn là làm thế nào để nguồn tư liệu ấy được bảo quản, khai thác và phục vụ cộng đồng một cách lâu dài.
Trước mắt ông là bài toán về không gian. Kho lưu trữ rộng khoảng 400 m², gồm 350 m² mặt sàn và một phòng 50 m² ở tầng trên, nay đã chật kín.

Không chỉ muốn có thêm diện tích để bảo quản tư liệu, ông Dũng còn ấp ủ xây dựng một bảo tàng báo chí tư nhân, nơi công chúng có thể trực tiếp tiếp cận những hiện vật mình đã dày công sưu tầm. Tuy nhiên, để hiện thực hóa dự định ấy, ông còn phải cân nhắc nhiều điều kiện.
Là nhà sưu tầm cá nhân, ông tự xoay xở kinh phí cho việc sưu tầm, bảo quản và số hóa. Trong khi đó, theo Luật Di sản văn hóa hiện hành, việc thành lập bảo tàng tư nhân cần đáp ứng các yêu cầu về hiện vật, địa điểm trưng bày và đề án tổ chức, hoạt động. Dù không gian hiện tại vẫn có thể đón khách tham quan, ông Dũng cho rằng diện tích này chưa đủ để phát triển thành một bảo tàng đúng nghĩa. Những hạn chế về cơ sở vật chất cùng những vướng mắc trong việc hoàn thiện thủ tục khiến dự định ấy vẫn chưa thể trở thành hiện thực.

Bên cạnh đó, việc lưu giữ hình ảnh những tờ báo ở độ phân giải chất lượng cao cũng đồng thời đặt ra yêu cầu về dung lượng lưu trữ. Mỗi trang báo sau khi chụp đều tạo ra một tệp dữ liệu lớn, khiến nhu cầu bộ nhớ tăng lên nhanh chóng. Ban đầu, ông Dũng mong muốn lưu giữ toàn bộ ảnh ở chất lượng gốc để bảo đảm khả năng tái sử dụng và phục dựng các trang báo trong tương lai. Song với dung lượng ổ cứng hiện có, ông chưa thể lưu trữ toàn bộ dữ liệu theo mong muốn. Giới hạn về bộ nhớ buộc ông phải tính toán, lựa chọn phương án lưu trữ phù hợp, trong khi khối lượng báo cần số hóa vẫn còn rất lớn.
Các chi phí thiết bị và các dịch vụ liên quan đến lưu trữ, công nghệ AI cũng tăng đáng kể trong những năm gần đây. Riêng hệ thống phần mềm phục vụ việc chụp và quản lý dữ liệu đã tiêu tốn khoảng 500 triệu đồng, chưa kể máy ảnh, máy tính, ổ cứng, nhân sự và chi phí vận hành. Toàn bộ nguồn lực hiện vẫn chủ yếu do cá nhân ông tự xoay xở để tiếp tục công việc.
Tuy nhiên, việc số hóa được những trang báo mới chỉ là một phần trong dự định của ông Dũng. Điều ông hướng tới không chỉ là lưu giữ hình ảnh các ấn phẩm cũ, mà còn xây dựng một hệ thống tra cứu để công chúng có thể tìm kiếm thông tin trên điện thoại hoặc máy tính. Muốn vậy, những hình ảnh đã chụp cần được chuyển đổi thành văn bản để người dùng có thể tra cứu nội dung. Thế nhưng, dự định này lại vấp phải những băn khoăn về bản quyền. “Không công khai thì không ai biết, mà công khai lại vi phạm luật bản quyền”, ông Dũng chia sẻ.
Theo ông, việc sở hữu những bản báo in không đồng nghĩa với việc có thể tự do công bố toàn bộ nội dung trên môi trường mạng. Nếu xây dựng một hệ thống tra cứu phục vụ công chúng, ông còn phải tính đến kinh phí duy trì nhân sự, thiết bị và phần mềm. Trong khi đó, phương án thu phí người sử dụng lại đặt ra những băn khoăn về việc khai thác thương mại nội dung báo chí. Những trở ngại này khiến kế hoạch xây dựng kho tư liệu mở chưa thể triển khai như kỳ vọng.
Công việc số hóa không chỉ phụ thuộc vào máy móc mà còn cần những người đủ kiên nhẫn để tiếp xúc với từng trang giấy đã tồn tại qua nhiều thập kỷ. Vốn là nhân viên tại cửa hàng máy tính của ông Dũng, từ năm 2024, cô Nguyễn Thị Hồng bắt đầu đồng hành cùng ông trong công việc này. Cô đảm nhận các khâu từ tiếp nhận, kiểm tra tình trạng báo, phân loại theo thời gian, số phát hành và tên ấn phẩm đến sắp xếp, chụp ảnh và cập nhật dữ liệu lên phần mềm.
Cô Hồng vẫn nhớ như in lần đầu được giao sắp xếp những tập báo đóng quyển từ trước năm 1945. Mỗi khi thấy cô đưa một cuốn báo lên giá, ông Dũng lại nhắc: “Nhẹ nhàng nhé, cẩn thận nhé, không rách nhé!”. Qua thời gian làm việc cùng ông Dũng, cô hiểu rằng mỗi cuốn báo đều quý giá bởi có những số đã thất lạc, khó có thể tìm lại dù có tiền cũng chưa chắc mua được.
Từ công việc tưởng chừng chỉ xoay quanh những thao tác phân loại, sắp xếp, cô Hồng nhận ra mỗi ấn phẩm đều lưu giữ những câu chuyện, dấu mốc lịch sử và ký ức của một thời. Bởi vậy, từng trang báo đều cần được nâng niu trong mỗi công đoạn xử lý. Dù đã có hệ thống máy móc hỗ trợ, nhiều khâu vẫn đòi hỏi sự tỉ mỉ của con người. Những trang báo lần lượt được ghi lại bằng hình ảnh, song hành trình biến chúng thành nguồn tư liệu có thể tra cứu và tiếp cận rộng rãi vẫn còn nhiều trở ngại.

Hơn 400.000 tờ báo từng là một con số đáng kinh ngạc ở thời điểm xác lập kỷ lục, đến nay con số đã lên đến 600.000 tờ. Thế nhưng, với ông Nguyễn Phi Dũng, hành trình sưu tầm dường như chưa có điểm dừng. Giữa những chồng báo đã phủ màu thời gian, chúng tôi vẫn thấy ông miệt mài với những cuộc tìm kiếm mới. Đặc biệt, trước dấu mốc sáp nhập các tỉnh, thành phố, ông đã cùng gia đình liên hệ với nhiều tòa soạn để tìm kiếm những số báo địa phương cuối cùng trước khi sáp nhập. Với ông, mỗi tờ báo không chỉ là một ấn phẩm, mà còn là dấu mốc ghi lại một giai đoạn lịch sử, là bức tranh thăng trầm của đời sống, con người và xã hội đương thời.
Trên hết, hành trình “lặn lội” sưu tầm không chỉ dừng lại sau cánh cửa kho lưu trữ, ông Dũng vẫn luôn niềm nở mở cửa đón những người quan tâm đến tham quan, sẵn sàng cung cấp tư liệu cho các phóng viên khi cần khai thác thông tin về những sự kiện trong quá khứ. Có những tờ báo quý được ông sẵn lòng trao tặng hoặc chia sẻ cho các đơn vị lưu trữ, bảo tàng hay triển lãm.
Trên hành trình sưu tầm, ông Dũng vẫn nhớ như in lần tìm gặp một nữ công nhân dệt từng xuất hiện trên báo Nhân Dân năm 1971. Từ bức ảnh đã ngả màu theo năm tháng, ông lần tìm tung tích người phụ nữ, rồi mang tờ báo năm xưa đến trao tận tay bà. Ít ai biết rằng người thợ dệt ấy từng ba lần được gặp Bác Hồ và nhiều lần chia sẻ những bức ảnh về Người. Cuộc gặp ấy cho thấy những trang báo cũ không chỉ lưu giữ sự kiện của một thời mà còn đưa ký ức trở lại, giúp những con người từng xuất hiện trên mặt báo tìm thấy hình ảnh của mình trong dòng chảy lịch sử.
Chứng kiến những giá trị lịch sử được lưu giữ qua từng trang báo, Nguyễn Quý Dương, sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền, chia sẻ cảm nhận sau chuyến tham quan: “Điều khiến mình ấn tượng nhất là mỗi tờ báo, mỗi hiện vật ở đây đều gắn với một câu chuyện riêng. Qua những chia sẻ của ông Dũng, mình cũng hiểu thêm về giá trị của tư liệu báo chí và trách nhiệm của người làm báo trong việc lưu giữ những giá trị ấy”.
Không dừng lại ở việc gìn giữ những tư liệu đã có, ông Dũng còn mong muốn đưa bộ sưu tập đến gần hơn với công chúng trong và ngoài nước. Sau khi xác lập kỷ lục Việt Nam năm 2024, nhà sưu tầm Nguyễn Phi Dũng tiếp tục đặt mục tiêu chinh phục kỷ lục châu Á. Nhắc đến dự định này, ông chia sẻ đầy quyết tâm: “Bây giờ mục tiêu tiếp theo là cố gắng đạt được kỷ lục châu Á. Khi đạt được rồi, ít nhất thế giới sẽ biết đến nhiều hơn, biết rằng ở Việt Nam có một nhà sưu tầm với quy mô như vậy, điều mà không phải nơi nào ở châu Á cũng có được”.

Với ông Dũng, kỷ lục là sự ghi nhận cho hành trình nhiều năm tích góp hàng trăm nghìn tờ báo, đồng thời mở ra cơ hội đưa những tư liệu mang dấu ấn Việt Nam đến gần hơn với bạn bè quốc tế. Mỗi trang báo đều ghi lại một phần lịch sử, phản ánh những chuyển biến trong đời sống văn hóa và con người Việt Nam qua từng thời kỳ. Càng đi sâu vào hành trình gìn giữ, ông càng mong kho tư liệu ấy sẽ trở thành nhịp cầu để công chúng quốc tế hiểu thêm về những chặng đường phát triển của đất nước.

Với ông Dũng, hành trình sưu tầm có lẽ sẽ còn tiếp tục tới chừng nào những trang báo cũ vẫn còn chờ được tìm thấy. Qua năm tháng, giấy có thể ngả màu, mực in có thể phai đi, nhưng những câu chuyện được ghi lại vẫn mang theo hơi thở của một thời đại. Bởi sau cùng, điều còn lại sau hành trình ấy không chỉ là hàng trăm nghìn tờ báo được gìn giữ, mà còn là ký ức về đất nước, con người Việt Nam qua từng chặng đường lịch sử, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Thực hiện: Thu Trang, Hạnh Dung, Khánh Linh, Phạm Thảo, Thiên Ngân