Lần theo vệt sáng của tháng năm: Miền ký ức của người mẹ ôm bóng hình con (Kỳ 1)
Chiến tranh đã lùi xa sau lũy tre làng, song những mất mát vẫn hiện hữu trong căn nhà rêu phong. Phía sau danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, mẹ Trần Thị Căn trở về với khoảng sân nhỏ, hiên nhà cũ và những tháng ngày lặng lẽ của tuổi xế chiều. Năm tháng qua đi, người mẹ già vẫn đau đáu ngóng trông những người con liệt sĩ chưa một ngày trở về.
Dáng hình lặng lẽ bên hiên nhà xưa
Bước qua khoảng sân nhỏ của căn nhà gỗ được dựng từ năm 1946 giữa nếp làng xưa, người ta dễ cảm nhận một nhịp sống chậm rãi, tĩnh lặng, như thể dòng chảy rộn ràng của thời đại đã dừng lại bên ngoài ngưỡng cửa. Căn nhà gỗ rêu phong ngập trong ánh nắng buổi trưa hè, nơi người mẹ già lặng lẽ ngồi bên khoảng sân đã quá đỗi quen thuộc.
Ở cái tuổi xưa nay hiếm có ai chạm tới, đôi mắt của Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Căn đã mờ đục theo tháng năm. Dưới mái hiên nhuốm màu thời gian, mẹ vẫn giữ dáng vẻ bình dị, thanh thản trong từng cử chỉ. Sự chậm rãi ấy không che khuất sức bền bỉ của người phụ nữ đã đi qua gần trọn một thế kỷ biến động, mà càng khiến người đối diện cảm nhận rõ hơn nghị lực đã nâng đỡ mẹ qua những tháng năm nhiều mất mát.
Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Căn sinh năm 1925, hiện sống tại xã Trung Kênh, tỉnh Bắc Ninh. Đầu năm 2026, ở tuổi 101, mẹ là một trong những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng vinh dự được trở thành khách mời tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Trước đó, mẹ đã từng tham dự Đại hội Thi đua yêu nước tỉnh Bắc Ninh lần thứ I năm 2025 và nhiều chương trình tri ân, gặp mặt người có công với cách mạng.

Cuộc đời mẹ Căn trôi qua như một dòng sông tưởng chừng phẳng lặng ở bề nổi nhưng lại chất chứa không ít cuộn sóng ở chiều sâu. Sinh ra và lớn lên trong những năm tháng đất nước còn lầm than, mẹ đã quen với cái nắng cháy lưng ngoài đồng ruộng, với những mùa đông thiếu ăn, thiếu mặc. Những tháng ngày tảo tần ấy hun đúc nên một người phụ nữ chịu thương, chịu khó, chưa bao giờ quen với việc than vãn trước nghịch cảnh.
Nhớ lại những năm tháng ấy, mẹ chậm rãi kể lại: “Ngày đó gian khổ thiếu thốn đủ thứ. Căn nhà gỗ bị giặc càn qua, sợ bị đốt nên gia đình phải dỡ thả xuống ao giấu giếm. Giải phóng xong mới vớt lên dựng lại nên màu gỗ mới đen đi như thế, chứ đáng lẽ ra màu gỗ còn đỏ chót, vớt dưới ao lên mới thành ra vậy”.

Mỗi thớ gỗ đen bóng, từng vết nứt trên cột nhà đều mang dấu vết của hàng chục năm dầm mưa, phơi nắng. Căn nhà vì thế không chỉ mang giá trị của một tài sản được truyền lại qua nhiều thế hệ, mà còn là nơi lưu giữ ký ức của gia đình, chứng kiến những năm tháng gian lao, những giọt mồ hôi, nước mắt và cả những hy vọng mà mẹ Căn cùng các con từng gửi gắm.
Từ những góc gỗ cũ, bàn thờ gia đình nghi ngút khói hương đến những vật dụng đã bạc màu theo năm tháng, mỗi hiện vật trong căn nhà nhỏ ấy đều gắn liền với một phần ký ức của gia đình. Căn nhà vẫn bình yên như thế, chỉ thiếu đi những người con từng lớn lên dưới mái nhà này rồi lần lượt ra chiến trường. Họ đi rồi không trở về, để người mẹ ở lại với nỗi nhớ thương kéo dài suốt hơn nửa thế kỷ đằng đẵng.
Con đi về phía chiến trường, mẹ ở lại với một đời thương nhớ
Trong ký ức của mẹ Căn, hai người con liệt sĩ vẫn là những đứa trẻ ngoan ngoãn, chịu thương chịu khó lớn lên trong một gia đình nghèo. Những năm ấy, cái khó bám riết lấy cuộc sống. Các con vừa phụ mẹ làm lụng, nuôi các em, vừa gánh củi, gánh gạo đi gần 9 km đến trung tâm huyện để học. Con đường đến lớp ngày ấy hẳn đã in dấu không biết bao bước chân của những đứa trẻ sớm quen với việc sẻ chia nhọc nhằn cùng mẹ.
Người con lớn nhập ngũ lần đầu năm 1963. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ trở về chưa được bao lâu, khi chiến sự miền Nam ngày càng ác liệt, anh tiếp tục tái ngũ vào năm 1965. Những dự định riêng được gác lại, anh lên đường về phía chiến trường, tiếp bước những người lính đang chiến đấu nơi tiền tuyến. Tuy nhiên, lần trở lại chiến trường ấy cũng là lần cuối anh được trở về với gia đình.
Người con thứ hai khi ấy là niềm hy vọng của cả gia đình bởi sức học sáng dạ. Năm 1967, anh vừa hoàn thành chương trình phổ thông lớp 10, phía trước còn những trang vở và bao dự định của tuổi trẻ. Thế rồi, anh gác lại việc học, thu xếp hành trang để lên đường, tiếp bước người anh trai đã nhập ngũ trước đó. Từ căn nhà ba gian ấy, người thanh niên đi về phía chiến trường, để lại sau lưng những dự định còn dang dở ở tuổi đôi mươi. Song sau những năm tháng chiến đấu khốc liệt, anh đã anh dũng hi sinh và không thể trở về với gia đình.
Những người em trong gia đình mỗi lần nhắc về hai người anh đã ngã xuống vẫn không khỏi nghẹn ngào. Trước ngày khoác áo lính, các anh là những người con hiền lành, xông xáo, quen nhận về mình những phần việc nặng trong nhà. Gánh nước, bổ củi, cày cấy ngoài đồng, việc gì đỡ được mẹ phần nào, các anh đều làm. Trong ký ức của những người ở lại, hai người anh vẫn hiện lên qua những buổi đạp xe, đi bộ gánh gạo ra huyện học rồi lại vội vã trở về phụ mẹ cấy lúa.
Ông Bùi Công Lĩnh, người con trai thứ ba của Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng Trần Thị Căn, bồi hồi nhớ lại: “Anh thứ nhất không được đi học nhiều, vất vả lắm. Anh nhập ngũ năm 1963, đến năm 1965 thì tái ngũ. Năm 1967, anh hai vừa học hết cấp 3, là cũng đi lính luôn. Nhà đông con, các anh em lần lượt ăn học, hoàn cảnh gia đình lại khó khăn nên các anh phải gồng gánh nhiều”.
Khoảnh khắc tiễn con rời nhà ra chiến trường vẫn nằm nguyên trong ký ức người mẹ như mới diễn ra ngày hôm qua. Mẹ tiễn các con đi trong nghẹn ngào, cố giấu những giọt nước mắt để con yên lòng lên đường làm nhiệm vụ. Những năm tháng sau đó là chuỗi ngày mẹ sống trong ngóng trông, đau đáu chờ từng lá thư từ chiến trường gửi về. Mỗi bữa cơm, mỗi ngọn lửa trong gian bếp chiều dường như đều gắn với một lời cầu mong các con được bình an giữa làn tên, mũi đạn nơi xa.
Rồi nỗi đau lớn nhất ập xuống căn nhà nhỏ vào năm 1970. Mẹ Căn nhận hai tin dữ cách nhau chỉ vỏn vẹn tám ngày. Người con cả hy sinh ngày 12/4/1970, người con thứ hai hy sinh ngày 20/4/1970. Hai người con, hai niềm hy vọng của gia đình, lần lượt nằm lại nơi chiến trường khi tuổi đời còn rất trẻ. “Hai anh đi liền nhau, buồn thì buồn lắm chứ. Lúc đấy tôi cũng khóc nhiều”, mẹ Căn nghẹn ngào chia sẻ.

Hai mất mát liên tiếp trở thành vết thương không dễ nguôi ngoai đối với người mẹ khi ấy. Hai người con trai, những trụ cột tương lai của gia đình, đã ra đi khi những dự định phía trước còn dang dở. Mẹ Căn tiếp tục sống, nhưng trong căn nhà gỗ ấy từ đó thiếu đi tiếng bước chân, tiếng gọi và những dáng người từng quen thuộc.
Trải qua hơn nửa thế kỷ, tiếng bom đạn đã lùi xa, căn nhà cũ vẫn còn đó, chỉ những người con năm nào đã không thể trở về. Với mẹ Căn, ký ức về các con vẫn nằm lại trong từng góc nhà, từng câu chuyện được nhắc lại qua năm tháng. Hai người con đã hy sinh, nhưng hình bóng của các anh vẫn còn thiếu một điều để hiện diện trọn vẹn trong chính căn nhà mình từng lớn lên.
Khoảng trống chưa gọi thành tên trên bàn thờ của mẹ
Trong gian thờ nhỏ, bàn thờ các liệt sĩ luôn được gia đình chăm chút trang nghiêm. Mùi hương trầm quyện vào những thớ gỗ cũ tạo nên một không gian lắng đọng, nơi người còn sống tìm cách kết nối với những người đã khuất. Với mẹ Căn, mỗi lần thắp một nén hương lên bàn thờ cũng là một lần mẹ gọi tên các con, như thể những người con vẫn còn đâu đó quanh khoảng sân nhỏ, chỉ chờ tiếng mẹ gọi để trở về.
Bàn thờ gỗ được đặt ở vị trí trang trọng trong căn nhà. Ánh sáng xuyên qua những khe cửa gỗ, phủ lên không gian thờ một vẻ tĩnh lặng. Nén hương được thắp lên không chỉ là một nghi thức tưởng niệm, mà còn là nơi mẹ gửi gắm những câu chuyện nhỏ của cuộc sống hôm nay, những điều có lẽ mẹ vẫn muốn kể cho các con sau hơn nửa thế kỷ xa cách.
Thế nhưng, giữa không gian thờ tự trang nghiêm ấy vẫn còn một khoảng trống. Hai người con cùng ngã xuống nơi chiến trường, nhưng trên bàn thờ mới chỉ có di ảnh của một người. Góc còn lại lặng im, để lại một khoảng thiếu vắng qua bao mùa khói hương.

Bức ảnh thờ của người con thứ hai may mắn được người cháu ngoại đang công tác tại Học viện Chính trị (Bộ Quốc phòng) mang đi phục chế từ tư liệu cũ. Sau quá trình phục dựng, hình ảnh người lính trẻ dần trở nên rõ nét hơn, giữ lại những đường nét và thần thái của anh khi còn sống.
Còn người con cả, gia đình đến nay vẫn chưa tìm được tư liệu hình ảnh để làm di ảnh đặt lên bàn thờ. Những năm qua, người thân đã tìm hỏi nhiều nơi nhưng vẫn chưa có thêm manh mối về một bức ảnh đủ rõ để phục dựng gương mặt anh. Ngước đôi mắt đã mờ đục lên bàn thờ, mẹ Căn chậm rãi nói: “Tôi giờ già rồi, chỉ mong sao trước khi nhắm mắt còn có được cái ảnh rõ ràng của nó, thắp nén hương còn được nhìn thấy mặt con mình cho đàng hoàng”.
Trên bàn thờ, vị trí di ảnh của người con cả vẫn để trống. Khoảng trống qua bao mùa khói hương ấy vẫn là một phần thiếu vắng trong ký ức của gia đình, nhất là với người mẹ đã nhiều năm mong mỏi được nhìn lại gương mặt con. Gia đình đã nhiều lần lặn lội tìm kiếm tư liệu, lần theo từng manh mối, hỏi thăm tất cả những người có thể quen biết, song đến nay vẫn chưa có được hình ảnh đủ để phục dựng gương mặt anh. Liệu một ngày nào đó, gương mặt người lính năm xưa có thể được tìm thấy và trở về trên gian thờ của gia đình hay không?