Tiêu điểm

Khảm sắc xà cừ giữ tinh hoa Chuôn Ngọ

Nguyễn Oanh, Thanh Mai, Hoàng Quỳnh • 28/09/2026 09:08

Từ những lớp vỏ ốc nhập về từ vùng biển xa, người thợ Chuôn Ngọ (xã Chuyên Mỹ, Hà Nội) đưa sắc xà cừ lên mặt gỗ, tạo nên những bức tranh và đồ khảm mang đặc trưng riêng của làng nghề nghìn năm tuổi.

“Hỡi cô thắt đai lưng xanh,
Có về Chuôn Ngọ với anh thì về.
Chuôn Ngọ có cây bồ đề,
Có sông uốn khúc, có nghề khảm khay…”

Từ những mảnh vỏ trai, vỏ ốc tưởng như chỉ là phần bỏ đi của biển cả, người thợ Chuôn Ngọ đã tìm thấy trong đó những sắc màu để đưa lên mặt gỗ. Hàng trăm, hàng nghìn mảnh nhỏ được cắt, ghép, mài và tỉa bằng đôi tay người thợ, tạo nên những bức tranh và đồ khảm mang ánh xà cừ đặc trưng.

Ảnh 1
Những mảnh xà cừ qua bàn tay người thợ tạo nên các sản phẩm mang đặc trưng của nghề khảm xà cừ Chuôn Ngọ.

Nghề khảm xà cừ ở Chuyên Mỹ có lịch sử từ khoảng thế kỷ XI. Chuôn Ngọ là nơi lưu giữ dấu tích của nghề qua đền thờ tổ nghề Trương Công Thành, đồng thời cũng là một trong những làng làm khảm của vùng Chuôn, cùng Chuôn Thượng, Chuôn Hạ, Chuôn Trung.

Ảnh 2 (4)
Đền thờ ông được công nhận là di tích lịch sử, trở thành nơi người dân làng nghề tưởng nhớ người đặt nền móng cho nghề khảm.

Những lớp xà cừ được sử dụng tại Chuôn Ngọ ngày nay phần lớn đến từ các loại ốc biển. Những người thợ làm nghề tại đây cho biết, trước đây nguyên liệu trai được dùng phổ biến hơn, nhưng ốc cho màu sắc và ánh sáng phong phú hơn. Nguồn nguyên liệu hiện được nhập từ nhiều nước như Singapore, Indonesia, sau đó xử lý thành vật liệu phù hợp với nghề khảm.

Ảnh 3
Qua nhiều thế hệ, những mảnh vỏ trai, vỏ ốc từ nguyên liệu thô đã trở thành những đường nét, mảng màu trên mặt gỗ, làm nên những sản phẩm mang dấu ấn của nghề khảm xà cừ Chuôn Ngọ.
Ảnh 4
Màu sắc của tác phẩm đã nằm sẵn trong lớp vỏ. Khi phần vỏ bên ngoài được mài đi, những sắc xanh, đỏ, vàng cùng các lớp ánh chuyển mới hiện ra. Người thợ nhìn vào mảnh ốc để hình dung vị trí của nó trên mặt gỗ.
Ảnh 5
Với nghề khảm, một miếng ốc đẹp vẫn chưa đủ. Người thợ phải nhìn được “nước” của vật liệu, tức hướng mà lớp xà cừ bắt ánh sáng.
Ảnh 6
Nghệ nhân Nguyễn Đình Hải với gần 30 năm kinh nghiệm làm nghề cho biết: “Ốc phải để đúng ‘nước’ thì nó mới sáng. Kể cả ốc đẹp mấy mà để ngược hướng thì cũng bị thâm, không có màu gì”.
Ảnh 7
Ảnh 8
Trước khi những mảnh ốc hiện diện trên mặt gỗ, hình ảnh đã được tính toán từ bản vẽ. Với nghề khảm, một đường nét trên giấy còn phải tính đến cách nó sẽ được chuyển thành hình trên vật liệu.
Ảnh 9
Theo ông Hải, vẽ mẫu khảm là một kỹ năng riêng. Người học mỹ thuật chưa chắc có thể làm ngay, bởi bản vẽ phải phù hợp với đặc tính của vật liệu và cách người thợ đưa hình vào gỗ.
Ảnh 10
Ảnh 11
Từ bản vẽ, người thợ bắt đầu cưa từng mảnh ốc theo đường nét đã định. Chiếc cưa nhỏ được đưa qua những đường cong, góc hẹp và chi tiết li ti, tách phần vật liệu thành từng mảnh để ghép thành hình.
Ảnh 12
Ảnh 13
Những mảnh ốc sau khi được cắt theo nét vẽ chưa trở thành hình hoàn chỉnh ngay. Trên nền gỗ, người thợ đặt mẫu, lấy đường nét làm căn cứ để đục phần âm vừa với từng mảnh vật liệu. Mỗi chi tiết vì thế phải được tính từ cả hình dáng của mảnh ốc lẫn phần gỗ sẽ nhận nó.
Ảnh 14
Khi các mảnh ốc được đặt xuống những phần gỗ đã đục sẵn, hình khảm dần hiện lên. Người thợ tiếp tục chỉnh từng mảnh cho vừa khít, sau đó mài phẳng bề mặt để xà cừ ăn liền với nền gỗ. Đây cũng là lúc những đường nét vốn còn rời rạc bắt đầu thành một hình ảnh hoàn chỉnh.
Ảnh 15
Bề mặt sau khi mài vẫn chưa phải bước cuối. Người thợ dùng dao tách, tỉa lại những đường nhỏ trên mảnh xà cừ, rồi làm rõ các chi tiết bằng bột đen. Những nét mặt, cành cây, hoa lá hay hoa văn nhỏ được xử lý ở công đoạn này để hình khảm có chiều sâu và rõ hình hơn.
Ảnh 16
Với những sản phẩm lớn, công việc có thể kéo dài vài tháng. Một tấm tranh lớn mất khoảng 90-100 ngày, trong khi những món đồ nội thất cầu kỳ có thể cần từ nửa năm đến một năm để hoàn thiện.
Ảnh 17
Nghệ nhân Nguyễn Xuân Dũng - thế hệ thứ ba trong gia đình làm nghề khảm cho biết, khảm truyền thần được coi là đỉnh cao của nghề khảm. “Khuôn mặt người phải bám sát ảnh mẫu, bởi chỉ một thay đổi nhỏ cũng có thể làm thần thái nhân vật khác đi. Chỉ riêng khảm mặt người cũng phải mất đến nửa tháng”, nghệ nhân chia sẻ.
Ảnh 18
Ảnh 19
Những sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật cao như vậy từng gắn với những đơn hàng lớn, nhưng thị trường hiện nay đã có nhiều thay đổi. “Trước đây, một gia đình có 6-7 người cùng làm nghề có khi cả năm chỉ làm được hai bộ sập, tủ nhưng vẫn không đủ hàng để bán. Nay, những sản phẩm có kích thước lớn mất nhiều thời gian hoàn thiện, lại tiêu thụ chậm hơn, khiến số người làm nghề cũng giảm”, nghệ nhân bộc bạch.

Trong khi đó, để thành thạo nghề khảm phải mất nhiều năm học việc. Người mới có khi mất hàng tháng chỉ để làm quen với chiếc cưa, rồi tiếp tục học từng công đoạn. Người trẻ trong làng cũng có thêm nhiều lựa chọn công việc khác ngoài nghề truyền thống.

Ảnh 20
Dẫu vậy, tiếng cưa, tiếng đục vẫn vang lên trong những gia đình làm nghề ở Chuôn Ngọ. Những người thợ vẫn ngày ngày ngồi bên bàn khảm, giữ nghề của quê hương bằng đôi tay và niềm tự hào về nghề đã được truyền qua nhiều thế hệ.

Nguyễn Oanh, Thanh Mai, Hoàng Quỳnh