CA TRÙ GIỮA THỜI ĐẠI SỐ: TIẾNG PHÁCH VƯƠN XA HAY VỌNG VÀO HƯ KHÔNG?
Như Nguyệt, Mạnh Đức, Thùy Minh, Dương Linh, Khánh Huyền, Lê Châu•21/06/2026 09:14
Tương truyền 700 năm tuổi, ca trù từng “độc tôn” rồi được UNESCO bảo vệ khẩn cấp. Giữa bão video ngắn thời đại số, tiếng phách sẽ vươn xa hay vọng vào hư không?
Giữa một thế giới nơi hàng triệu màn hình đang lướt qua hàng triệu video chớp nhoáng, tồn tại không gian chỉ cần ba người để tạo nên một thế giới nghệ thuật hoàn toàn khác biệt. Một ca nương, một kép đàn và một quan viên. Không ánh đèn chớp nháy, không nhạc nền dồn dập, chỉ có câu hát kéo dài như thể thời gian đang được nắn lại từng nhịp một. Ca trù tồn tại lặng lẽ, khiêm tốn trong guồng quay của đời sống hiện đại và chính vì vậy đang đứng trước những câu hỏi lớn nhất trong lịch sử tồn sinh của nó.
Năm 2009, UNESCO ghi danh ca trù vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Đây vừa là một danh hiệu vinh dự lẫn một thực tế đáng buồn: bộ môn nghệ thuật đã tồn tại và phát triển qua nhiều thế kỷ - từng là hồn vía của những không gian quyền quý nhất trong đời sống văn hóa người Việt, từ đình làng đến phủ đệ, từ cung đình đến chốn giao lưu của giới trí thức - đang đứng trên bờ vực mai một.
Không ai thấm thía cảm giác này hơn NSƯT Bạch Vân, người đã dành cả đời cho bộ môn này qua những năm tháng tự tìm tòi, tự phục hồi nghề trong thời kỳ nghệ thuật này gần như biến mất khỏi đời sống công khai. Bà không dùng từ “thách thức” hay “khó khăn” khi nói về vị trí của bộ môn hôm nay. Bà dùng một từ có phần nặng nề hơn rất nhiều: nỗi đau.
“Ca trù từng giữ vị trí độc tôn, tất cả các sự kiện trọng đại của triều đình đều phải có mặt nó,” bà nói. “Nhưng bây giờ, hầu như các sự kiện quốc gia không có mặt bộ môn nghệ thuật này nữa".
Sự vắng mặt ấy không phải ngẫu nhiên. Tiếng phách đã trải qua một giai đoạn dài bị hiểu lầm, bị xã hội nhìn nhận lệch lạc, khiến nhiều nghệ nhân phải bỏ nghề trong im lặng, mang theo những kỹ năng và ký ức không còn chỗ để trao truyền. Khi NSƯT Bạch Vân bắt đầu hành trình phục hồi, không gian xã hội gần như đã đóng lại. Phải mất hàng chục năm để nó hé mở trở lại.
Và ngay cả bây giờ, dù đã có danh hiệu UNESCO, dù nhà nước đã dành sự quan tâm nhất định, vị trí của ca trù vẫn đứng đâu đó ngoài lề của đời sống văn hóa chủ lưu. Nói cách khác, bộ môn nghệ thuật này vẫn lưu giữ được danh, nhưng chưa giữ được chỗ đứng thực sự trong những sự kiện định hình bộ mặt văn hóa của đất nước.
Có một giả định rất phổ biến: thế hệ lướt TikTok và nghe nhạc hiện nay khó có thể ngồi yên để thưởng thức những môn nghệ thuật truyền thống. Nhịp phách chậm, câu hát dài, không gian tĩnh lặng - tất cả đều đi ngược lại tốc độ tiêu thụ nội dung của thời đại số.
Nhưng Ninh Lan Dương (21 tuổi) - một người trẻ tiếp cận tiếng phách ca trù thông qua sự kiện Cổ Âm Nhã Hội lại không đồng tình với giả định đó. “Mình không học ca trù bài bản,” cô nói, “Nhưng mình nghĩ điều thú vị là nó không cố chiếm cảm tình của mình ngay lần đầu nghe. Nhạc bây giờ nhiều khi nghe xong là quên luôn. Ca trù thì khác, nó tạo cho mình cảm giác độc đáo rất riêng sau những giây phút nghiền ngẫm.”
Mai Chi (20 tuổi), một khán giả đến với ca trù sau khi tình cờ xem những clip ngắn trên mạng xã hội, kể lại cảm giác đối diện trực tiếp với nhịp điệu của nó lần đầu tiên. “Lúc đầu mình hơi khựng lại, một phần bởi thói quen nghe những thứ nhanh, chỉ vài giây là biết có thích hay không. Còn ca trù thì rất chậm, không tạo cảm giác cuốn ngay lập tức.”
Có một chi tiết đáng suy nghĩ trong lời kể của cả hai người trẻ này: không ai trong số họ đến với ca trù vì được lập trình sẵn để yêu thích nó. Họ đến vì tò mò, và ở lại vì nó cho họ thứ gì đó mà nội dung ăn liền không thể có. Đó không phải thứ trải nghiệm có thể bắt chước bằng một clip ngắn sở hữu triệu lượt xem.
Đây là lúc cuộc tranh luận thực sự bắt đầu và không phải cuộc tranh luận nào cũng có một bên đúng rõ ràng.
Luận điểm ủng hộ “bình dân hóa”, làm mới ca trù không phải không có trọng lượng. Nếu không có đủ khán giả, không có đủ kinh tế để nuôi sống người nghệ nhân, không có đủ sức hút để lớp trẻ chọn theo học thì sự thuần khiết của bộ môn nghệ thuật này cuối cùng sẽ được gìn giữ cho ai? Lịch sử nghệ thuật thế giới không thiếu những minh chứng về sự tiến hóa thành công: nhạc Jazz truyền thống đã sinh ra vô số nhánh thể nghiệm mà không làm mất gốc rễ; âm nhạc dân gian Ireland đi khắp thế giới một phần nhờ những bản hòa âm đương đại.
Gần gũi hơn, chính những clip ngắn trên mạng xã hội đã đưa Mai Chi và Ninh Lan Dương lần đầu bước đến với ca trù, đó là một con đường tiếp cận không hoàn hảo, nhưng đã mở được cánh cửa. Nếu không có những "cánh cửa" ấy, liệu họ có tìm đến không? Rộng hơn, nếu thanh âm chỉ tồn tại trong những không gian mà người mới phải chuẩn bị đủ hành trang mới dám bước vào, thì ranh giới giữa bảo tồn và cô lập sẽ mỏng đến mức nào?
Đây là nghịch lý đầu tiên và đáng sợ nhất của câu chuyện nghệ thuật truyền thống hôm nay: bảo vệ tuyệt đối sự thuần khiết có thể biến chúng thành một thứ được “đặt trong tủ kính” tuy hoàn hảo, nguyên vẹn, nhưng lại ngày càng xa rời đời sống nghệ thuật thay đổi không ngừng. Một di sản được gìn giữ hoàn hảo nhưng số lượng người biết thưởng thức ngày càng khiêm tốn, liệu đó có phải là sự tồn tại mà người ta muốn?
Nhưng cũng chính lúc này, vế còn lại của nghịch lý hiện ra, và nó cũng là câu hỏi những học giả, nghệ sĩ gạo cội trăn trở. NSƯT Bạch Vân không cần câu trả lời nhẹ nhàng. Bà nhớ lại những cuộc tranh luận từ thời mới phục hồi ca trù, khi có người đề xuất tách rời tiếng phách khỏi giọng hát để người trình diễn có thể “biểu diễn tự do” hơn trên sân khấu.
Trong ca trù truyền thống, đào nương vừa hát vừa gõ phách đó không phải yếu tố phụ trợ, mà là trung tâm kỹ thuật. Sự hòa quyện giữa giọng hát và tiếng phách là thứ không thể tháo rời mà không làm sụp đổ toàn bộ cấu trúc. “Gõ phách không được thì hát cái gì?” bà thẳng thắn.
Ca nương Bạch Vân (giữa)
“
“Phách là sự sống của người đào nương, của ca trù,”
NSƯT Bạch Vân
Bà cũng dẫn ra trường hợp của quan họ như một bài học cay đắng về điều gì xảy ra khi một nghệ thuật truyền thống đi quá xa trên con đường đại chúng hóa: “Quan họ là đối đáp, nhưng hiện nay làm gì còn nữa. Mất hết rồi.” Chỉ một câu nhưng nặng hơn cả là nỗi tuyệt vọng của người nghệ sĩ kỳ cựu.
Và nhìn từ góc độ của người làm nghề, khó có thể bác bỏ lập luận của NSƯT Bạch Vân: khi bạn cắt đi phần cốt lõi của một nghệ thuật để nó dễ nuốt hơn, thứ còn lại là một cái vỏ hào nhoáng, có thể lan tỏa, được nhiều người biết đến, nhưng đã rỗng ruột.
Trong ca trù, khoảng lặng không phải chỗ trống - đó là nơi ngôn ngữ của nghệ thuật được nói bằng im lặng. Lấy đi những khoảng lặng ấy, bỏ đi tiếng phách, đẩy nhịp điệu lên nhanh cho hợp trend, thứ còn lại có thể có triệu lượt xem, nhưng sẽ không còn giữ được giá trị cốt lõi nữa.
Hai vế của nghịch lý ấy đặt lên bàn một câu hỏi mà cả hai phía đều chưa trả lời được trọn vẹn: “Nâng sự hiểu biết của khán giả lên chứ, sao lại hạ giá trị nghệ thuật xuống?” NSƯT Bạch Vân đặt ra câu hỏi này từ năm 1994 và nó vẫn còn nguyên tính thời sự. Nhưng ở phía ngược lại, thời đại số cũng đặt ra câu hỏi hóc búa không kém. Nếu khán giả không đủ kiên nhẫn để được nâng tầm, thì sự thuần khiết sẽ được gìn giữ cho ai? Đó là câu hỏi những người yêu nghệ thuật vẫn chưa tìm ra lời giải.
Từ nghịch lý lớn nhất, đâu đó vẫn hiện hữu một ánh sáng cho hy vọng đem môn nghệ thuật này sống trong thời đại số. Chính tiết tấu chậm của nó, thứ mà người ta lo ngại nhất trong thời đại số lại có thể là lợi thế lớn nhất của nó.
NSƯT Bạch Vân đã nhận ra điều này từ rất sớm. Khi Tiến sĩ Đoàn Hương, người phản biện luận văn của bà năm 1994, đặt câu hỏi tại sao vẫn cố bảo vệ thứ “chậm rãi” trong một cuộc sống ngày càng “nhanh nhạy”, bà trả lời bằng một tư duy nghệ thuật hoàn toàn trái ngược: “Cuộc sống càng hối hả, ca trù lại chậm rãi như thế lại rất cần thiết - bởi vì nó kéo con người lại để suy nghĩ, để nhìn lại mình, nhìn lại cuộc sống, để nạp năng lượng.” Câu trả lời đó theo bà vẫn giữ nguyên giá trị cho tới ngày hôm nay.
Đáng ngạc nhiên hơn, tư duy tưởng như đã cũ ấy đang được chứng minh ngay trong đời sống của những người trẻ đang tiếp xúc với nghệ thuật này. Ninh Lan Dương không từ bỏ TikTok hay Reels sau khi biết đến bộ môn này. Nhưng thói quen kiên nhẫn mà nó tạo nên đã thay đổi cách cô tiêu thụ mọi thứ khác. “Từ khi tiếp xúc với nghệ thuật truyền thống, mình thấy mình bớt kiểu xem cho qua thời gian hơn. Trước đây đọc tiêu đề xong là nghĩ hiểu rồi, giờ thì hay muốn tìm hiểu thêm hơn. Không phải mình cố tình thay đổi mà nó xảy ra hết sức tự nhiên.” Đó là một tác động không nhỏ, từ một buổi diễn thính phòng.
Mai Chi thì chưa đến mức bật ca trù lên nghe hằng ngày. Cô thành thật về điều đó. Nhưng trong cái thành thật ấy có một gợi mở quan trọng: “Với những trải nghiệm văn hóa sâu sắc, mình nghĩ nghệ thuật truyền thống hoàn toàn có chỗ đứng.” Chỗ đứng ấy không phải chỗ đứng của một thứ bảo tàng sống. Đó là chỗ đứng của một trải nghiệm không thể thay thế trong một thế giới chuyển động không ngừng.
Và đây mới là câu hỏi thực sự cần đặt ra: không phải liệu ca trù có tìm được khán giả hay không - bởi bằng chứng cho thấy khán giả vẫn đang tìm đến - mà là liệu những người nghệ sĩ, và những thiết chế xung quanh nó, có sẵn sàng tạo đủ không gian để sự gặp gỡ ấy xảy ra không? Không phải bằng cách pha loãng nó, mà bằng cách xây dựng những cơ hội để người trẻ bước vào mà không cảm thấy cần phải là chuyên gia trước khi họ vượt qua cửa.
Sự khác biệt giữa “bảo tồn” và “giữ cho sống tiếp” nằm ở một chỗ đó. Bảo tồn là đặt nghệ thuật vào tủ kính tuy nguyên vẹn, lộng lẫy nhưng lại cô đơn. Giữ cho sống tiếp là để nó được gặp gỡ, được va chạm với những con người mới, được tạo ra những phản ứng mới trong khi cốt lõi của nó được gìn giữ nguyên vẹn.
Giữa một thế giới mà sự chú ý trở thành hàng hóa khan hiếm nhất, ca trù vẫn kiên trì đứng đó, không vội vàng, không cố gắng chiều lòng toàn bộ khán giả, không “nép mình” để được yêu thích. Và có lẽ, đó chính xác là lý do tại sao nó vẫn còn người tìm đến.
Câu chuyện của nêu trên không chỉ bàn về một di sản đang hấp hối. Đó là câu chuyện về loại hình nghệ thuật đòi hỏi con người đương đại phải thực sự lắng nghe - không phải nhẹ hơn, không phải nhanh hơn, mà đúng với vốn dĩ của nó. Thách thức ấy không chỉ dành riêng cho bộ môn. Đó là thách thức của bất kỳ thứ gì có chiều sâu thực sự, trong một thời đại mà chiều sâu ngày càng trở nên xa xỉ.
Xin trân trọng cảm ơn NSƯT Bạch Vân (nghệ nhân, nhà nghiên cứu ca trù), Ninh Lan Dương (thành viên sự kiện Cổ Âm Nhã Hội) và Mai Chi (khán giả theo dõi ca trù).
Như Nguyệt, Mạnh Đức, Thùy Minh, Dương Linh, Khánh Huyền, Lê Châu