Bác sĩ Nguyễn Trọng An: "Khi gia đình không còn là mái ấm an toàn cho những đứa trẻ"
Giữa những vụ việc trẻ em bị bạo hành liên tiếp gây bức xúc dư luận, Bác sĩ Nguyễn Trọng An, nguyên Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ Trẻ em, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), cho rằng nguyên nhân cốt lõi nằm ở sự lệch hướng của các nền tảng giáo dục và việc chưa thực hiện hiệu quả cơ chế bảo vệ trẻ em từ sớm.

PV: Thời gian gần đây dư luận liên tục rúng động trước các vụ bạo hành trẻ em dã man, nhiều vụ việc xảy ra ngay trong không gian gia đình bởi người thân ruột thịt hoặc "cha hờ", "mẹ kế". Ông đánh giá như thế nào về tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng bạo lực này ?
ThS.BS Nguyễn Trọng An: Tôi cho rằng đây không phải là hiện tượng mang tính nhất thời, mà là một thực trạng đáng báo động đang có xu hướng gia tăng. Theo số liệu từ các cơ quan chức năng và Tổng đài Quốc gia Bảo vệ trẻ em 111, số vụ trẻ em bị bạo lực, xâm hại được ghi nhận những năm gần đây có chiều hướng tăng lên.
Điều đáng lo ngại nhất là người gây ra bạo lực lại chính là những người đáng lẽ phải yêu thương, chăm sóc và bảo vệ trẻ. Khi một đứa trẻ bị bạo hành ngay trong chính ngôi nhà của mình bởi cha mẹ, cha dượng hay mẹ kế, các em không chỉ chịu tổn thương về thể chất, mà còn bị tước đi cảm giác an toàn và niềm tin vào những người thân thiết nhất.
Đây là một nghịch lý đau lòng bởi Việt Nam là quốc gia có hệ thống pháp luật khá đầy đủ về bảo vệ trẻ em, đồng thời là một trong những nước đầu tiên ở châu Á phê chuẩn Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em.
PV: Người ta thường nói gia đình là nơi bình yên nhất đối với mỗi đứa trẻ. Thế nhưng, với nhiều em nhỏ bị bạo hành, đó lại trở thành "địa ngục trần gian". Theo ông, đâu là nguyên nhân dẫn đến nghịch lý đau lòng này?
ThS. BS Nguyễn Trọng An: Đây là một nghịch lý rất đau lòng. Theo tôi, nguyên nhân gốc rễ của tình trạng này nằm ở sự chệch hướng của cả ba môi trường giáo dục quan trọng đối với trẻ em, gồm: giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội.
Trước hết, giáo dục gia đình đang bị coi nhẹ. Nếu như trước đây các giá trị gia phong, nề nếp và trách nhiệm trong gia đình được đề cao thì hiện nay, đặc biệt tại các đô thị, nhiều gia đình đã không còn quan tâm đúng mức đến việc giáo dục con cái.
Bên cạnh đó, giáo dục nhà trường cũng đang có những lệch hướng nhất định khi quá chú trọng thành tích và điểm số, trong khi giáo dục đạo đức, kỹ năng sống chưa được quan tâm tương xứng. Một thực tế đáng chú ý là nhiều trường học hiện nay vẫn thiếu giáo viên tâm lý và các mô hình tư vấn tâm lý học đường để hỗ trợ, phát hiện sớm những vấn đề tâm lý của học sinh.
Ngoài ra, giáo dục xã hội cũng đang đứng trước nhiều thách thức. Sự quản lý lỏng lẻo đối với các tệ nạn xã hội, cùng với những nội dung bạo lực, lệch chuẩn trên không gian mạng đã và đang tác động không nhỏ đến nhận thức, hành vi của trẻ em cũng như người lớn.
Theo tôi, khi cả ba môi trường giáo dục là gia đình, nhà trường và xã hội đều bộc lộ những khoảng trống, các hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em sẽ có điều kiện phát sinh.
PV: Có một ranh giới rất nhạt nhòa giữa "yêu cho roi cho vọt" (quan niệm dạy con truyền thống) và bạo hành độc hại. Chuyên gia định nghĩa thế nào về ranh giới này để các bậc phụ huynh không nhân danh sự "dạy dỗ" để thỏa mãn hành vi bạo lực?
ThS. BS Nguyễn Trọng An: Trong quan niệm truyền thống của người Việt, câu nói "yêu cho roi cho vọt" thể hiện hàm ý bố mẹ nghiêm khắc trong quá trình dạy dỗ để con cái nên người. Tuy nhiên, không ít phụ huynh đã hiểu lệch ý nghĩa của câu nói này, xem đòn roi là phương thức giáo dục cần thiết và từ đó biện minh cho các hành vi bạo lực đối với trẻ em.
Khi cha mẹ sử dụng đòn roi, sự sỉ nhục hoặc các hình thức trừng phạt khiến trẻ đau đớn về thể chất, tổn thương về tinh thần và sống trong sợ hãi, đó không còn là giáo dục mà đã trở thành bạo hành.
Điều đáng lo ngại là những đứa trẻ lớn lên trong môi trường thường xuyên có đòn roi rất dễ bị ám ảnh tâm lý. Qua nhiều năm nghiên cứu về trẻ em, tôi nhận thấy các em từng bị bạo lực có nguy cơ tái tạo hành vi bạo lực khi trưởng thành nếu tiếp tục sống trong môi trường thiếu lành mạnh. Nói cách khác, bạo lực có thể tạo nên một vòng luẩn quẩn, từ thế hệ này sang thế hệ khác.

PV: Nhiều người cho rằng những tổn thương thể chất có thể chữa lành theo thời gian, nhưng những tổn thương tinh thần do bạo hành gây ra lại âm ỉ kéo dài. Theo ông, trẻ em là nạn nhân của bạo hành có thể phải đối mặt với những hệ quả gì trong cuộc sống?
ThS. BS Nguyễn Trọng An: Những tổn thương về thể chất do bạo hành như xây xước, chảy máu hay đau đớn có thể được điều trị và dần hồi phục theo thời gian. Tuy nhiên, những tổn thương về tinh thần thường nguy hiểm hơn rất nhiều bởi chúng có thể đeo bám trẻ trong suốt cuộc đời.
Ban đầu, trẻ có thể chỉ xuất hiện những biểu hiện như buồn bã, lo âu, sợ hãi, chán ăn hoặc không muốn đến trường. Tuy nhiên, khi không được phát hiện và hỗ trợ kịp thời, những sang chấn tâm lý này có thể phát triển thành rối nhiễu tâm trí, thậm chí là các rối loạn tâm thần nghiêm trọng.
Đáng lo ngại, hiện nay đã xuất hiện không ít trường hợp trẻ tự làm hại bản thân hoặc có ý định tự tử do bị chửi mắng, xúc phạm, làm nhục hoặc bạo hành kéo dài. Nhiều người cho rằng chỉ khi bị đánh đập mới gây tổn thương, nhưng trên thực tế, những lời lẽ xúc phạm và sự sỉ nhục kéo dài cũng có thể để lại hậu quả tâm lý vô cùng nặng nề.
Vì vậy, bên cạnh việc chấm dứt hành vi bạo lực, trẻ cần được hỗ trợ tâm lý từ gia đình, nhà trường và các chuyên gia để từng bước vượt qua sang chấn, phục hồi sức khỏe tinh thần và trở lại cuộc sống bình thường.
PV: Mặc dù đã có Luật Trẻ em, Tổng đài 111 và mạng lưới bảo vệ trẻ em ở cơ sở, nhưng nhiều vụ bạo hành vẫn kéo dài trong thời gian dài mà không được phát hiện. Theo ông, đâu là những "điểm nghẽn" trong cơ chế phát hiện, phòng ngừa và can thiệp sớm hiện nay?
ThS. BS Nguyễn Trọng An: Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở việc thiếu luật hay thiếu các cơ chế hỗ trợ trẻ em. Việt Nam đã có Luật Trẻ em, có Tổng đài Quốc gia Bảo vệ trẻ em 111 và nhiều quy định liên quan đến bảo vệ trẻ em. Vấn đề là chúng ta thực hiện những quy định đó như thế nào.
Nhiều người cho rằng chỉ cần có luật hoặc có đường dây nóng là có thể giải quyết được vấn đề bạo hành trẻ em. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là phải xây dựng được môi trường giáo dục lành mạnh cho trẻ từ gia đình, nhà trường đến xã hội.
Nếu các bậc cha mẹ chưa làm tốt vai trò giáo dục, nhà trường chưa quan tâm đúng mức đến giáo dục kỹ năng sống, sức khỏe tâm lý, còn xã hội thiếu những hình mẫu tích cực để trẻ noi theo thì nguy cơ bạo lực vẫn sẽ tiếp tục tồn tại.
Tôi cho rằng "điểm nghẽn" cốt lõi hiện nay chính là những khoảng trống trong giáo dục và việc thực thi các quy định bảo vệ trẻ em chưa thực sự hiệu quả. Chỉ khi gia đình, nhà trường và xã hội cùng thực hiện tốt vai trò của mình thì mới có thể phòng ngừa từ sớm, từ xa và giảm thiểu các vụ việc bạo hành trẻ em xảy ra ngay trong chính gia đình hoặc cộng đồng.
PV: Trước thực trạng nhiều vụ bạo hành trẻ em kéo dài nhưng không được phát hiện kịp thời, theo ông, trách nhiệm này thuộc về ai?
ThS. BS Nguyễn Trọng An: Theo tôi, trách nhiệm không thuộc về một cá nhân hay một cơ quan riêng lẻ mà thuộc về cả gia đình, nhà trường, cộng đồng và các cơ quan quản lý nhà nước.
Trong công tác bảo vệ trẻ em, cha mẹ, thầy cô giáo và những người sống trong cộng đồng chính là tuyến phòng ngừa đầu tiên. Bên cạnh đó, Điều 47 và Điều 48 của Luật Trẻ em cũng quy định việc xây dựng mạng lưới cán bộ công tác xã hội bảo vệ trẻ em tại cộng đồng. Đây là những người được đào tạo chuyên môn, có nhiệm vụ phát hiện sớm các nguy cơ, hỗ trợ gia đình và can thiệp trước khi bạo lực hoặc xâm hại xảy ra.
Theo tôi, đây cũng chính là mắt xích còn thiếu hiện nay. Nhiều trường hợp trẻ bị bạo hành, xâm hại ngay trong gia đình hoặc cộng đồng nhưng không được phát hiện kịp thời vì thiếu lực lượng theo dõi, giám sát và hỗ trợ từ cơ sở. Khi sự việc bị phát hiện thì hậu quả đã xảy ra, thậm chí không thể khắc phục hoàn toàn.
PV: Theo chuyên gia, làm thế nào để xây dựng một cơ chế mà ở đó mỗi người dân đều trở thành một "mắt xích" trong việc phát hiện và bảo vệ trẻ em?
ThS. BS Nguyễn Trọng An: Để mỗi người dân thực sự trở thành một "mắt xích" trong mạng lưới bảo vệ trẻ em, điều quan trọng nhất là phải thực hiện nghiêm các quy định của Luật Trẻ em năm 2016, đặc biệt là Điều 47 và Điều 48 về xây dựng hệ thống bảo vệ trẻ em ba cấp độ, trong đó ưu tiên hàng đầu là phòng ngừa.
Muốn làm được điều đó, cần kiện toàn mạng lưới cán bộ công tác xã hội và cộng tác viên bảo vệ trẻ em tại cộng đồng. Đây là lực lượng được đào tạo về kỹ năng bảo vệ trẻ em, có khả năng nhận diện những dấu hiệu bất thường trong gia đình, kịp thời tư vấn, hỗ trợ và can thiệp trước khi sự việc trở nên nghiêm trọng.
Thực tế, nhiều vụ bạo hành trẻ em bị che giấu sau cánh cửa gia đình. Hàng xóm có thể nghe thấy tiếng trẻ khóc nhưng ngại lên tiếng vì sợ va chạm, người thân cho rằng đó là chuyện riêng của gia đình, còn không ít phụ huynh vẫn giữ quan niệm "con tôi, tôi có quyền dạy". Chính vì vậy, cần có một lực lượng chuyên trách tại cộng đồng đủ kiến thức và trách nhiệm để phát hiện sớm những nguy cơ này.
Bên cạnh đó, đội ngũ công tác xã hội không chỉ cần làm nhiệm vụ phát hiện và ngăn chặn bạo hành, mà còn cần hỗ trợ cha mẹ kiến thức, kỹ năng nuôi dạy con, giúp xây dựng môi trường gia đình an toàn và lành mạnh cho trẻ. Khi mạng lưới này được vận hành hiệu quả, những tiếng khóc hay lời cầu cứu của trẻ sẽ không còn bị bỏ lại phía sau những cánh cửa đóng kín.
PV: Trước thực trạng bạo hành trẻ em vẫn còn diễn biến phức tạp và để lại những hậu quả nặng nề cho các em nhỏ, nếu được gửi gắm một thông điệp tới các bậc cha mẹ cũng như toàn xã hội, ông muốn nhắn nhủ điều gì?
ThS. BS Nguyễn Trọng An: Với nhiều năm làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, tôi cho rằng thông điệp quan trọng nhất dành cho các bậc cha mẹ là: :Hãy lắng nghe con nói". Cha mẹ không chỉ là người nuôi dưỡng, mà còn phải là người bạn đồng hành, luôn lắng nghe, thấu hiểu và kịp thời nhận ra những thay đổi trong suy nghĩ, cảm xúc của con.
Khi cha mẹ thực sự thấu hiểu con, nhiều nguy cơ bạo lực, xung đột hay những tổn thương tâm lý cũng sẽ được ngăn chặn từ sớm. Thông điệp ngắn gọn nhất mà tôi muốn gửi gắm là: "Hãy lắng nghe con nói và trở thành người bạn chân thành của con".
PV: Cảm ơn ông về cuộc trao đổi!