Megastory

Từ Bến Nhà Rồng đến Quảng trường Ba Đình: Hành trình thế kỷ của một vĩ nhân

Sương Mai, Thanh Giang - CJC 19/05/2026 06:02

Nhìn lại lịch sử, có những cái tên đã trở thành định mệnh, có những hành trình đã thay đổi số phận của cả một dân tộc. Người đã hiến dâng trọn đời cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân, mở ra bước ngoặt lớn trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Cuộc đời của Người là bài ca vĩ đại nhất

2.png
3.png

Những năm cuối thế kỷ XIX, toàn cõi Việt Nam chìm trong đêm tối của ách đô hộ thực dân. Giữa bối cảnh non sông lầm than và bế tắc ấy, ngày 19/5/1890, mảnh đất Kim Liên (Nam Đàn, Nghệ An) chứng kiến sự ra đời của một vĩ nhân tương lai: cậu bé Nguyễn Sinh Cung. Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, tuổi thơ của Người được tắm mát bởi mạch nguồn yêu nước và lòng nhân ái từ đấng sinh thành. Đó là tư tưởng ái quốc và ý chí tự lập từ người cha - cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc; là nét tảo tần, hy sinh thầm lặng của người mẹ Hoàng Thị Loan; và tinh thần anh dũng bất khuất từ người chị Nguyễn Thị Thanh cùng người anh Nguyễn Sinh Khiêm - những người sau này đều chấp nhận cảnh tù đày để dấn thân vì nghĩa lớn.

Sống trong hoàn cảnh đất nước bị đô hộ, Người tận mắt chứng kiến nỗi khổ cực tận cùng của đồng bào và sự bế tắc của các phong trào yêu nước đương thời. Ở tuổi 21, với nghị lực phi thường và khát vọng cháy bỏng giành lại quyền tự do cho dân tộc, Người đã đưa ra quyết định táo bạo: sang phương Tây tìm đường cứu nước. Lời khẳng định: "Tôi muốn ra nước ngoài xem, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta" không chỉ là lời hẹn ước với non sông, mà còn mở ra hành trình xoay chuyển vận mệnh của cả một quốc gia.

5 (1)
5.png

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, lịch sử dân tộc đánh dấu một mốc son tại Bến Nhà Rồng khi người thanh niên Nguyễn Tất Thành bước chân lên con tàu Amiral Latouche-Tréville, lấy tên là Văn Ba để ra đi tìm đường cứu nước. Một thập kỷ đầu tiên là hải trình đầy gian truân qua nhiều quốc gia trên thế giới. Người đã sống hòa mình với nhân dân lao động và làm đủ mọi công việc vất vả để mưu sinh. Chính sự thấu cảm đối với nỗi khổ cực của giai cấp vô sản đã giúp Người nhận ra cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân tiến bộ toàn cầu.

Cuối năm 1917, Người tham gia các hoạt động của phong trào Việt kiều yêu nước và dần hòa mình vào phong trào công nhân Pháp. Năm 1919, dưới tên Nguyễn Ái Quốc, Người đã gửi tới Hội nghị Vécxây bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam, sự kiện này chính là tiếng vang đầu tiên của Cách mạng nước nhà trên trường quốc tế.

Bước ngoặt lớn diễn ra vào tháng 7 năm 1920 khi Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Từ đó, Người đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Người tích cực xây dựng lý luận cách mạng và tổ chức phong trào yêu nước nhằm thức tỉnh nhân dân thuộc địa đứng lên tự giải phóng.

Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc chuyển hướng về Quảng Châu, nơi thể hiện rõ năng lực tổ chức và tuyên truyền cách mạng sắc bén của Người. Năm 1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ và xuất bản tuần báo Thanh Niên, một trong những tờ báo cách mạng đầu tiên theo khuynh hướng vô sản ở Việt Nam. Các bài giảng của Người sau đó được tập hợp thành tác phẩm "Đường Kách mệnh", đặt cơ sở lý luận vững chắc cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa xuân năm 1930, mở ra bước ngoặt quyết định cho phong trào giải phóng dân tộc.

6.png
7.png

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, lịch sử ghi dấu khoảnh khắc thiêng liêng khi Nguyễn Ái Quốc đặt bước chân đầu tiên trở về đất mẹ sau 30 năm bôn ba vạn dặm. Giữa núi rừng đại ngàn, Người chọn hang Pác Bó (Cao Bằng) làm đại bản doanh, trực tiếp chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (tháng 5/1941). Hội nghị đưa ra quyết sách mang tính bước ngoặt: đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh. Mặc dù sau đó phải trải qua hơn một năm bị đày ải cực khổ trong các nhà lao của Tưởng Giới Thạch tại Quảng Tây và để lại cho đời tập thơ "Nhật ký trong tù", cuối năm 1944, Người đã vượt qua mọi vòng vây hiểm nguy để trở về đất nước, chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, đặt nền móng cho cao trào Tổng khởi nghĩa sau này.

Mùa thu năm 1945, tận dụng thời cơ "ngàn năm có một", Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã phát động cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thần tốc, làm sụp đổ bộ máy thống trị của phát xít Nhật và chế độ phong kiến nhờ sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước hàng vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh dõng dạc đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Giọng nói ấm áp của Người: "Tôi nói đồng bào nghe rõ không?" đã đi vào tâm thức của bao thế hệ như biểu tượng của một nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân.

8.png

Thế nhưng, nền độc lập non trẻ ngay lập tức phải đối mặt với muôn vàn khó khăn khi thù trong giặc ngoài vây hãm, vận mệnh đất nước đứng trước tình thế "ngàn cân treo sợi tóc". Trước dã tâm xâm lược lần nữa của thực dân Pháp, đêm ngày 19/12/1946, tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), Người đã viết “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, khẳng định một quyết tâm thép: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng cơ quan Trung ương rời thủ đô, trở lại chiến khu Việt Bắc, lãnh đạo nhân dân bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm đầy gian khổ, tự lực cánh sinh.

9.png

Chặng đường gian lao ấy đã kết thúc vẻ vang bằng chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ, quân và dân ta đã làm nên một chiến thắng "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Sau 56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non, pháo đài của thực dân Pháp hoàn toàn sụp đổ, buộc chúng phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh tại Đông Dương và giải phóng hoàn toàn miền Bắc.

Trở về Thủ đô sau chiến thắng, trên cương vị Chủ tịch nước, Người vẫn giữ nguyên lối sống thanh bạch, khiêm tốn đến ngỡ ngàng. Bộ quần áo kaki sờn vai, đôi dép cao su vạn dặm và ngôi nhà sàn đơn sơ bên ao cá đã trở thành biểu tượng bất diệt của một tâm hồn vĩ đại. Người luôn đặt tiêu chí “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư” lên hàng đầu và chính bản thân Người là tấm gương sáng nhất. Dưới sự lãnh đạo của Người, miền Bắc nhanh chóng khắc phục vết thương chiến tranh, bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội với khí thế sôi nổi. Toàn miền Bắc lúc này trở thành hậu phương vững chắc, sẵn sàng dốc toàn bộ sức người, sức của chi viện cho tiền tuyến miền Nam trong cuộc đấu tranh thống nhất non sông.

10.png

Dù những năm tháng cuối đời sức khỏe suy giảm, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn kiên trì cống hiến trọn vẹn tinh lực cho sự nghiệp cách mạng đến phút cuối cùng. Sự ra đi của Người vào ngày 2/9/1969 là một tổn thất sâu sắc, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn thể dân tộc. Nhưng di sản Người để lại - bản di chúc thiêng liêng cùng hệ tư tưởng mang tầm vóc chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!” - đã trở thành nguồn động lực bất tận, gắn kết khối đại đoàn kết dân tộc để đánh bại đế quốc Mỹ, giành thắng lợi hoàn toàn vào mùa xuân năm 1975.

11.png

Sương Mai, Thanh Giang - CJC