Người neo tiếng sáo Việt vào bầu trời
Từ tre, giấy và tiếng sáo, nghệ nhân Nguyễn Văn Quyết đã dành hơn 40 năm để giữ cánh diều làng Bá bay qua nhiều thế hệ.

Làng Bá Dương Nội (xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng, Hà Nội) có một thứ mà ít làng quê Bắc Bộ nào còn giữ được. Đó là một lễ hội thả diều sáo tổ chức đều đặn vào ngày rằm tháng Ba hằng năm, và một cộng đồng người làm diều nối tiếp nhau qua nhiều thế hệ. Năm 2025, nghề làm diều và Lễ hội thả diều của làng được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
Nghệ nhân diều sáo Nguyễn Văn Quyết sinh ra và lớn lên giữa ngôi làng ấy. Ông làm cánh diều đầu tiên từ những năm còn học tiểu học, và gắn bó với nghề hơn 40 năm. Dù làm diều chưa bao giờ là nghề mưu sinh chính của ông, cũng như của phần đông người làng.
Hiện ông là Chủ nhiệm Câu lạc bộ Diều sáo xã Hồng Hà - câu lạc bộ thành lập từ năm 2004 với mục đích giữ lại kiến thức và giá trị văn hóa của cánh diều để truyền cho thế hệ sau. Năm 2025, ông mang cánh diều làng Bá sang Nhật Bản trong một festival quốc tế về bảo tồn và phát triển văn hóa làng nghề truyền thống. Đó là lần đầu tiên diều sáo Bá Dương Nội được giới thiệu ra nước ngoài.

Trong cuộc trò chuyện với chúng tôi, nghệ nhân Nguyễn Văn Quyết kể về những cánh diều đã theo ông từ tuổi thơ và hành trình giữ lại nghề truyền thống của làng.

Cơ duyên nào đã đưa ông đến với nghề làm diều?
Quê hương làng Bá Dương Nội có truyền thống chơi diều, làm diều và có Lễ hội thả diều. Vì thế cho nên sự kế thừa được duy trì liên tục từ các cụ truyền lại. Những người dân như tôi khi lớn lên đều biết làm diều và rất thích trò chơi thả diều.
Ai là người "thầy" đầu tiên chỉ cho ông những đường vót tre, làm sáo đầu tiên?
Ban đầu, lúc còn bé tí, tôi đã thích diều. Cứ lấy những thứ gì đó giống giống như diều để nghịch. Bố thấy như thế thì làm cho tôi cái diều đầu tiên. Tôi chơi, rồi sau một thời gian học hỏi thì tự làm được những cánh diều của riêng mình. Tôi nhớ là đến năm lớp 4 thì đã tự làm được những cái diều do chính tay mình làm rồi.
Nghe nói chiếc diều đầu tiên ông làm phải mất rất nhiều tháng mới hoàn thành. Điều gì đã giúp ông tiếp tục trong khoảng thời gian khó khăn ấy?
Cái diều nhìn nó đơn giản thế thôi, nhưng để nó bay được cũng đòi hỏi rất nhiều kỹ thuật. Lúc nhỏ mình tự làm thì chưa đúng với kỹ thuật của nó, thành ra làm rất nhiều lần mà nó không bay được.
Không phải là làm một con đầu tiên không bay được, xong làm con thứ hai là bay được luôn đâu. Rất mất nhiều thời gian. Có những con lại phải sửa, phải làm lại mới hoàn toàn. Ví dụ như sau này tôi mới biết, nếu diều bị lệch thì không bay được, hoặc cánh quá cứng thì cũng không bay được. Độ cong của cánh diều không đủ thì nó cũng không bay được. Rất nhiều yếu tố như thế. Làm sai một cái gì đó là cũng không đảm bảo được.
Lúc ấy trẻ con thì rất thích thú. Mình làm không được thì những cái khó khăn ấy lại trở thành động lực để tiếp tục tìm hiểu và làm tiếp, bởi vì mình đã từng nhìn thấy cái diều nó bay được rồi. Đấy là một mục tiêu để mình mong muốn mình cũng làm được. Cuối cùng thì nó thành công, nó bay lên được.

Hơn 40 năm với nghề, đã bao giờ ông nghĩ tới chuyện dừng lại?
Các trò chơi dân gian bây giờ cũng vắng bóng dần. Tuy nhiên, trò chơi dân gian của Việt Nam mình có một đặc điểm chung là đều phải tự làm. Trong trò chơi đều có việc tự làm đồ chơi. Chính cái việc tự làm đó tạo ra một sức hút rất lớn.
Với cái diều này cũng vậy. Khi mình tự làm được thì nó sẽ tạo ra một sự ham thích. Từ đó mình làm, mình chơi, rồi lại kết hợp với nhiều yếu tố ở trong làng. Trong làng có rất nhiều người chơi diều. Thứ hai nữa là lại có Lễ hội thả diều, đấy là dịp hằng năm mà mình được tiếp xúc với nhiều cánh diều khác trong làng, cũng như nhiều người chơi diều ở khắp mọi miền. Ở miền Bắc này, trong miền Nam cũng có người chơi diều.
Vì thế cho nên càng tìm hiểu thì lại càng thấy nó có sức hút. Cho nên đến bây giờ, tôi vẫn còn giữ được niềm yêu thích và vẫn tiếp tục làm diều, cũng như truyền dạy lại các kỹ thuật làm diều cho các thế hệ sau.

Điều gì làm nên nét đặc sắc của diều sáo làng Bá Dương Nội so với diều ở những nơi khác?
Diều sáo của làng Bá Dương Nội được mọi người đánh giá là độc đáo, có mấy điểm như thế này.
Thứ nhất, nó được làm hoàn toàn bằng thủ công, từ tre, giấy truyền thống.
Thứ hai, cái diều này không có đuôi. Thường thường các loại diều ở những vùng quê khác đều phải có đuôi. Thế nhưng riêng diều của làng Bá Dương Nội thì không có đuôi mà vẫn bay tốt và bay rất cao.
Thứ ba nữa là tiếng sáo của nó. Tiếng sáo có một nét rất riêng. Nó ngân nga, âm thanh vang xa và có âm điệu rất đặc biệt, khiến người nghe cảm thấy thích thú.
Để hoàn thành một chiếc diều, có những công đoạn chính nào? Và công đoạn nào đòi hỏi sự tỉ mỉ nhất?
Có bốn công đoạn.
Thứ nhất là chọn vật liệu, gồm tre, giấy, dây buộc và keo dán. Ngày xưa thì đều tìm các nguyên vật liệu sẵn có. Ví dụ tre thì ở làng quê này không thiếu. Keo thì chặt từ nhựa cây, như cây sung, cây duối có nhựa - dùng nhựa đó để dán diều. Dây buộc cũng sử dụng vật liệu sẵn có như dây đay, còn dây để thả diều thì cũng được làm từ tre.
Có vật liệu rồi thì sang bước thứ hai là chẻ thanh tre ra, pha ra và bắt đầu vót khung diều. Vót xương diều xong thì đến công đoạn thứ ba là uốn khung diều - uốn xong là được hình cái diều rồi. Bước thứ tư là dán diều và buộc dây lèo.
Tất cả các công đoạn đều rất quan trọng, đều cần sự tỉ mỉ. Tuy nhiên theo tôi thì công đoạn vót khung diều là khó khăn nhất và cũng đòi hỏi sự chính xác nhất. Bởi vì khi vót xương diều, nếu vót không đều thì cái diều sẽ bị méo, bị lệch và không bay được. Thứ hai, vót không đều thì hình dạng của nó cũng xấu.

Tiếng sáo diều có gì khác biệt so với diều của các quốc gia khác?
Trên thế giới có rất nhiều cánh diều của các nước, kể cả những vùng dân tộc thiểu số người ta vẫn có những cánh diều riêng. Tuy nhiên, để có cái sáo diều như của Việt Nam thì họ công nhận là chỉ có Việt Nam mới làm sáo diều như này.
Cũng có diều của Indonesia hoặc một số nước Đông Nam Á có tiếng kêu, nhưng không phải từ cái sáo này. Họ dùng một cái dây căng lên, khi thả thì dây dao động và phát ra tiếng "phật phật". Nó cũng có tiếng kêu nhưng không phải tiếng như sáo diều của mình. Ở bên Trung Quốc thì người ta cũng có cái sáo, nhưng họ làm một mặt thôi, gắn vào dưới bụng những chiếc diều vuông vuông của họ. Khi bay lên thì nó kêu "ù" một cái, chứ không ngân nga như sáo của mình.
Cái sáo diều thì lại có giai điệu, có ngân nga, có trầm bổng và có cao có thấp. Theo những người làm về âm nhạc, về âm thanh đánh giá thì tiếng của nó có nhiều kiểu, nhiều màu sắc. Cái quan trọng là hai ống - hai cái ống thể tích sáo này khi nó kêu thì sẽ kết hợp với nhau và tạo thành cái tiếng ngân. Những cái sáo nhỏ lại phụ họa cho cái sáo lớn hơn.
Ông có lo ngại gì về cách làm sáo hiện nay?
Gần đây có một số bạn trẻ quá lạm dụng về cái sáo này. Người ta có thể trồng lên những cái sáo to, rồi lại trồng lên mười mấy cái sáo, nhưng lại không chú ý đến âm thanh, cao độ của các sáo này. Cho nên nó tạo ra một âm thanh kiểu như hỗn tạp và làm cho nhiều người nghe rất sợ tiếng sáo. Vì các bạn ấy làm tiếng như tiếng còi tàu, tiếng máy cưa "két két". Những tiếng đó rất hỗn tạp, thành ra là tiếng ồn nhiều chứ không còn là tiếng sáo diều nữa.
Sáo diều có được làm ngay tại làng không, thưa ông?
Mình làm chứ. Còn một số người chỉ biết làm diều thôi thì thường phải đi mua sáo. Những cụ chơi giỏi, có tiếng ở trong làng thì đều phải làm được cả diều và sáo.
Sáo thì cơ bản đều một dạng, có thể tùy theo người chế tác mà làm ngắn hơn hoặc dài hơn một chút. Cái to sẽ dài hơn cái nhỏ. Ống to ở dưới, ống nhỏ lên trên. Ống to thì tiếng trầm, còn càng những ống ở trên thì tiếng càng thanh, càng cao hơn.

Trong tất cả những cánh diều đã làm, cánh diều nào có kỷ niệm đặc biệt nhất với ông?
Cánh diều mà tôi nhớ nhất là cánh diều đầu tiên, khi mình đã làm rất nhiều con diều mà không bay được. Hôm đấy làm được một con, mang ra thả thì thấy nó bay lên được. Đấy là một kỷ niệm nhớ mãi.
Tuy vậy, con diều đầu tiên bay lên rồi nhưng sau đó vẫn bị hỏng, vẫn có nhiều con không bay được. Không phải về sau là làm con nào cũng bay được đâu. Bây giờ thì đã đạt đến một trình độ là làm con nào cũng bay tốt cả.
Năm 2025, ông mang cánh diều làng Bá sang Nhật Bản. Chuyến đi ấy để lại điều gì trong ông?
Đấy là chuyến đầu tiên mà tôi mang cái diều của mình ra giới thiệu với nước ngoài. Qua chuyến đi đó thì cũng thấy rằng ngoài các nghề thủ công của Việt Nam, cánh diều cũng được người Nhật rất thích. Khi mình mang sang đấy, mình tự làm diều và họ xem rất đông. Khi thả nó lên được thì họ rất ngạc nhiên - bởi vì diều của Nhật thì họ cũng có, nhưng hoàn toàn khác với diều của mình và không có sáo. Có một ông, khi xem chương trình của mình, đã chạy 50 cây số đến để mua một cái diều mang về. Rất vui khi người nước ngoài cũng đón nhận và quan tâm đến văn hóa truyền thống của Việt Nam mình.

Với vai trò Chủ nhiệm Câu lạc bộ Diều sáo xã Hồng Hà, ông thấy trách nhiệm của mình như thế nào khi nghề làm diều và Lễ hội thả diều được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia?
Đấy là một vinh dự rất lớn cho những người dân của làng Bá nói chung và đối với bản thân tôi nói riêng.
Câu lạc bộ được thành lập năm 2004, mục đích là để giữ lại những kiến thức cũng như những giá trị văn hóa về cánh diều và truyền lại cho thế hệ sau. Vì thế cho nên Câu lạc bộ đã thu hút được rất nhiều người thuộc nhiều thế hệ, nhiều lứa tuổi. Qua các hoạt động, đã thu hút các em, các chú, các bác cùng tham gia sinh hoạt. Nhờ đó mà cũng có những sợi dây kết nối giữa thế hệ này với thế hệ khác. Đồng thời, Câu lạc bộ có các hoạt động giao lưu ở ngoài địa phương, giới thiệu cánh diều của làng Bá đi trong nước cũng như giới thiệu với du khách nước ngoài.
Sự quan tâm của thế hệ trẻ trong làng với nghề làm diều hiện nay ra sao thưa ông?
Cuộc sống có nhiều thay đổi, cũng có nhiều trò chơi khác hấp dẫn hơn, thì văn hóa truyền thống cũng như các đồ chơi, trò chơi truyền thống nói chung và cánh diều nói riêng cũng có một phần bị cạnh tranh.
Diều thì vẫn được nhiều người, các em chơi. Tuy nhiên, cách làm truyền thống, các phương pháp chế tác cũng như cách chơi diều truyền thống thì cũng đã giảm, bởi vì nó khó làm hơn và ít sự hấp dẫn hơn. Diều bằng vải bây giờ có thể bền hơn, chịu nước, màu sắc đẹp, nhiều hình thù và dễ thả.
Ông có điều gì muốn nhắn nhủ với thế hệ trẻ hiện nay?
Để các em có được những kiến thức cũng như tình yêu đối với cánh diều thì cũng cần có sự quan tâm của Nhà nước, nhà trường hoặc những tổ chức có thể đưa cánh diều đến với các bạn nhỏ...
Nghệ nhân Nguyễn Văn Quyết

Ở làng Bá Dương Nội có một lợi thế là có lễ hội, thành ra cánh diều sẽ được nhắc đến và được quan tâm nhiều hơn. Vì thế các em cũng có những tiếp xúc sớm. Đấy là một cái rất tốt để giữ gìn nét văn hóa của diều truyền thống này.
Tuy nhiên, để các em có được những kiến thức cũng như tình yêu đối với cánh diều thì cũng cần có sự quan tâm của Nhà nước, cũng như các thế hệ, nhà trường hoặc những tổ chức có thể đưa cánh diều đến với các bạn nhỏ để các bạn được tiếp xúc, được làm, được trải nghiệm. Như thế thì sẽ có sự gìn giữ, kế thừa tốt hơn.
Nhưng muốn nó phát triển về lâu dài và có sức sống thì theo tôi cũng nên đưa nó thành một hoạt động trải nghiệm cho khách du lịch, và văn hóa diều truyền thống này phải trở thành một sản phẩm du lịch cho địa phương. Khi người dân làng Bá Dương Nội cũng như những người chơi diều, làm diều có được thu nhập từ chính cái nghề của mình thì khi đấy nó sẽ có sức sống bền vững và sẽ lan tỏa tốt hơn.
Câu chuyện của nghệ nhân Nguyễn Văn Quyết bắt đầu từ một cánh diều mà người bố làm cho đứa con trai nhỏ, và đi qua hàng trăm cánh diều hỏng trước khi có cánh diều đầu tiên bay lên. Bốn mươi năm sau, ông là người đứng đầu một câu lạc bộ, là người mang tiếng sáo Bá Dương Nội sang tận Nhật Bản, và là người nói thẳng rằng số người chơi diều truyền thống đang thu hẹp lại.
Điều ông mong không phải là một danh hiệu nữa. Danh hiệu thì làng đã có. Điều ông mong là cánh diều sống được, bằng chính đôi tay của những người làm ra nó.
Giống như cánh diều làng Bá, không có đuôi để giữ thăng bằng, vẫn phải bay, và vẫn bay rất cao.
Thực hiện:
Nội dung: Nhật Ánh, Thanh Vân, Phương Nga
Thiết kế: Như Thuỳ, Hoài An