Ký ức ngày trở về của "Vệ Út" Phùng Đệ giữa khúc khải hoàn mùa thu
72 năm sau ngày 10/10/1954, ký ức về thời khắc lịch sử của Hà Nội vẫn vẹn nguyên trong tâm trí Trung tá, NSƯT Phùng Đệ - một trong những "Vệ Út" huyền thoại của Trung đoàn Thủ đô. Tại căn nhà nhỏ ở ngõ 45 Phan Đình Phùng, hồi ức của người lính năm xưa vẫn nối dài câu chuyện về hành trình tiếp quản Thủ đô và niềm hân hoan ngày đoàn quân chiến thắng trở về.

Tuổi thơ gắn liền với bom đạn của Vệ út cảm tử
Sinh ra tại làng Trích Sài ven hồ Tây lộng gió vào năm 1933, cuộc đời cậu bé Phùng Đệ từ thuở nhỏ đã phải oằn mình chịu đựng những nhọc nhằn, cay đắng của thời cuộc. Cha mất sớm khi còn quá nhỏ, mẹ qua đời vào tháng 5/1945. Giữa lúc nạn đói hoành hành, ba anh em mỗi người phiêu bạt một ngả để mưu sinh. Cậu được người cô ruột đón về khu vực bãi Phúc Tân nương nhờ và cho theo học nghề đóng giày trong phố. Những tưởng cuộc đời của chàng thiếu niên nghèo khó ấy sẽ lặng lẽ trôi qua bên xưởng thợ, nhưng lịch sử đã chọn cho cậu một ngã rẽ hoàn toàn khác.
Người thợ cả ấy hóa ra lại là một cán bộ Việt Minh hoạt động bí mật. Qua từng ngày, những câu chuyện về lòng yêu nước, về tội ác của giặc ngoại xâm đã nhen nhóm trong lòng cậu bé Phùng Đệ một khát vọng tự do cháy bỏng. Để rồi, khi lời hiệu triệu toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh vang lên vào tháng 12/1946, bất chấp tuổi đời còn rất nhỏ, cậu thiếu niên 13 tuổi đã quyết định rời xưởng thợ để bước vào hàng ngũ Vệ quốc đoàn.
Trung tá, NSƯT Phùng Đệ bồi hồi nhớ lại: "Lúc bấy giờ, cách mạng vừa thành công, đất nước muôn vàn khó khăn, giặc tứ bề vây hãm. Quân đội không tuyển chọn khắt khe như bây giờ, ai hăng hái là được nhận, thậm chí có những em nhỏ mới 9, 10 tuổi cũng tìm cách vào bộ đội". Trở thành một chiến sĩ liên lạc, trinh sát nhỏ tuổi, cậu bé Phùng Đệ không biết sợ là gì, trong lòng chỉ tràn ngập sự háo hức và lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ dâng hiến cho quê hương.

Nhiệm vụ của Trung đoàn Thủ đô lúc bấy giờ là kìm chân địch, tạo thời gian cho cả nước chuẩn bị kháng chiến trường kỳ. Sự ra đời của Liên khu 1 nằm sâu trong vòng vây địch, Liên khu 2 ở Chợ Mơ và Liên khu 3 với hệ thống chiến lũy từng bước đẩy quân Pháp vào thế bị chia cắt, giằng co đã tạo nên một thế trận chiến đấu kiên cường, biến từng góc phố, ngôi nhà thành những pháo đài bất kham.
Giữa vòng vây kìm kẹp của bom đạn, những chiến sĩ nhỏ tuổi như cậu bé Phùng Đệ đã làm nên bao kỳ tích. Đêm 17/2/1947, cuộc rút quân chiến lược của Trung đoàn Thủ đô diễn ra. Hơn 1.200 cán bộ, chiến sĩ và thương bệnh binh đã lặng lẽ vượt sông Hồng dưới gầm cầu Long Biên, lách qua vòng vây gắt gao của địch mà không bị phát hiện. Đó là "đoàn quân hào hoa" mang theo hẹn ước ngày trở về
Những năm tháng sau đó là hành trình gian khổ nhưng vô cùng tự hào trên chiến khu Việt Bắc. Cái đói, cái rét, những trận ghẻ lở, chấy rận nơi rừng thiếc nước độc không làm chùn bước chân người lính. Được biên chế vào đội tuyên truyền văn nghệ rồi chuyển sang đoàn văn công Sư đoàn 308, chiến sĩ Phùng Đệ đã tham gia nhiều chiến dịch lớn của cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông có mặt từ Chiến dịch Sông Thao (1949) cùng các văn nghệ sĩ Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, rồi tiếp tục vừa đào hào, vừa cất tiếng hát phục vụ chiến sĩ giữa chiến trường Điện Biên Phủ (1954).
Ngày trở về rưng rưng khúc khải hoàn
Và rồi, giây phút thiêng liêng nhất cũng đã đến. Ngày 10/10/1954, theo chân Đại đoàn quân tiên phong, chàng thanh niên Phùng Đệ trở về tiếp quản Thủ đô trong niềm hân hoan chiến thắng.
"Hôm về tiếp quản, cảm xúc trong mình lúc ấy vô cùng háo hức, lạ kỳ và sướng lắm! Xa nhà tròn 8 năm đằng đẵng, bước chân về qua năm cửa ô theo lời bài hát Tiến về Hà Nội của Văn Cao, trong đầu cứ băn khoăn không biết Hà Nội ra sao, gia đình, người thân thế nào, có còn ai không...", giọng người cựu chiến binh chùng xuống, nghẹn ngào khi nhắc lại khoảnh khắc đoàn tụ.

Trước ngày về, cấp trên đã quán triệt rất nghiêm ngặt kỷ luật chiến trường, dặn dò bộ đội tuyệt đối không được làm phiền nhân dân, mọi sự giúp đỡ của đồng bào đều phải tuân thủ kỷ luật quân đội. Đêm trước ngày tiếp quản, ông trằn trọc không sao ngủ được. Bao nhiêu ký ức về Thủ đô và chặng đường tám năm kháng chiến cứ lần lượt hiện về.
Khi đoàn quân tiến qua các cửa ô, hình ảnh nhân dân Hà Nội ùa ra hai bên đường rợp bóng cờ hoa đã xóa tan mọi nhọc nhằn chinh chiến. Tất cả tập trung tại sân vận động Cột cờ (Khu di tích Hoàng thành Thăng Long), nơi lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên được kéo lên trong niềm tự hào ngút trời. Khác với trí tưởng tượng về một Thủ đô có thể bị tàn phá nặng nề, Hà Nội hiện ra vẫn vẹn nguyên vẻ đẹp thanh bình, chan chứa tình nghĩa đồng bào.
Rời quân ngũ sau những năm tháng gắn bó với Sư đoàn 308 - đơn vị chủ lực ở lại bảo vệ Trung ương Đảng và Thủ đô, năm 1960, ông chuyển sang ngành điện ảnh và công tác tại Xưởng phim Quân đội (nay là Điện ảnh Quân đội nhân dân - đơn vị trực thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam) với vai trò là một phóng viên, nhà quay phim chiến trường. Mang theo ống kính dấn thân qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, ông đã đi qua nhiều chiến trường khốc liệt, từ chiến trường C (Lào), chiến trường K (Campuchia), chiến trường Tây Nam cho đến khi có mặt tại Sài Gòn đúng trưa ngày 30/4/1975 lịch sử.

Với tài năng và sự dấn thân bền bỉ, ông đã ghi dấu ấn sâu đậm qua nhiều thước phim tài liệu lịch sử, mang về những giải thưởng điện ảnh danh giá như: Huy chương Bông sen vàng cho các phim Ngọn lửa Nghệ Tĩnh (1964), Võ tay không (1970), Những cô gái C3 quân giải phóng (1973), Chiến thắng lịch sử Xuân 75 (1977); Giải Bồ câu vàng tại Liên hoan phim Leipzig (Đức) năm 1972 cho phim Chiến thắng Đường 9 Nam Lào,... Những thước phim chiến trường giàu giá trị lịch sử đã mang về cho ông danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú vào năm 1993 cùng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật cho tác phẩm tài liệu xuất sắc "Những cô gái C3 quân giải phóng".

Nhìn lại chặng đường 72 năm qua từ mốc son lịch sử năm 1954 đến nay, NSƯT Phùng Đệ không giấu nổi niềm tự hào tột độ trước sự đổi thay vĩ đại của đất nước. Ôm lại ký ức xa xôi, ông xúc động chia sẻ rằng bản thân vô cùng tự hào vì đã được sống qua một thời kỳ mà thế giới còn chưa biết đến đất nước Việt Nam, thời điểm ấy người phương Tây gọi ta là "Annamite" (An nam mít). Thế nhưng, từ một quốc gia nghèo đói, chịu nhiều áp bức, Việt Nam nay đã vươn mình sánh vai với các cường quốc năm châu. Đứng trước sự đổi thay ấy, người "Vệ Út" năm xưa cảm thấy trọn vẹn vì cả cuộc đời mình đã góp phần bé nhỏ vào chặng đường gian khổ mà tự hào của dân tộc.
Từ 36 phố phường khi xưa, Hà Nội nay đã phát triển thành một đô thị hiện đại, sầm uất. Dẫu dòng chảy thời gian mang theo những đổi thay, nét thanh lịch của người Tràng An đôi khi có những khoảng lặng cần bồi đắp, song tinh thần quật cường và lòng yêu nước của người Việt Nam vẫn là mạch nguồn trường tồn, tiếp nối qua từng thời kỳ.
Với ông, hòa bình hôm nay mang theo cả những mất mát mà thế hệ cha anh đã gửi lại nơi chiến trường. Giành được chính quyền đã là một chặng đường gian khó, nhưng để giữ gìn những thành quả ấy còn cần phải nỗ lực hơn rất nhiều. Thời gian có thể đưa tiếng súng lùi xa, song trách nhiệm gìn giữ những thành quả ấy vẫn còn vẹn nguyên qua từng thế hệ. Nếu cha ông đã viết nên những trang sử bằng lòng quả cảm và sự hy sinh thì hành trình dựng xây đất nước hôm nay cũng cần được tiếp nối bằng trách nhiệm và khát vọng cống hiến, để những mùa thu hòa bình còn mãi trong dáng hình một đất nước đang vươn lên.